Hợp đồng này là đối tượng của luật ngày 3-7-1967 về các bảo hiểm hàng hải, được bổ sung bởi sắc lệnh số 68-64 ngày 19-1-1968 (xem Bộ luật về các bảo hiểm, điều L.171-1 và tiếp theo).

1. Hình thức hợp đồng

Hợp đồng này phải được lập thành văn bản mạng tên gọi "đơn bảo hiểm". Trước khi cấp đơn bảo hiểm, người bảo hiểm hay người môi giới thường giao cho người được bảo hiểm một bản ghi thanh toán.
Người môi giới bảo hiểm, thường gọi là "môi giới có tuyên thệ", là những người theo thường lệ, thảo ra các đơn bảo hiểm.

2. Các bên của hợp đồng

2.1. Người bảo hiểm

Người bảo hiểm ở đây bao giờ cũng là những công ty chuyên trách về ngành này và đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước; Nhà nước, bằng văn bản, tự quyết định mức đóng góp cao nhất, nghĩa là mức phí bảo hiểm tối đa mà mỗi công ty có thể chấp nhận được tùy theo tính chất của sự rủi ro và theo từng con tàu.

2.2. Người được bảo hiểm

Bảo hiểm có thể ký kết cho bản thân người mua bảo hiểm, hoặc cho người khác, hoặc cho người  được hưởng quyền lợi bảo hiểm. Điều này thường gặp ở trường hợp bán theo C.A.F (Cou, Assurance ,Frêt) nghĩa là bán giao hàng ở mạn tàu, có đủ giá bảo hiểm, cước vận chuyển hoặc theo F.O.B (Free on board -bán hàng giao trên tàu). Trong trường hợp này người ta không biết rõ ngay ai là người được hưởng bảo hiểm, vì hàng hóa có thể được bán lại cho người khác trong qúa trình vận chuyển.

3. Những quy tắc chung về bảo hiểm

 Hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực nếu sự rủi ro được bảo hiểm không xảy ra trong hai tháng kể từ ngày các bên có cam kết, hay từ ngày đã được người bảo hiểm đảm nhận trách nhiệm theo quy định.
1. Khai báo sai.
Trong trường hợp lời khai báo của người được bảo hiểm có thiếu sót hay không đúng sự thật mà điều đó có tác dụng làm giảm khá rõ rệt sự đánh giá của người bảo hiểm đối với sự rủi ro, thì  lời khai ấy có ảnh hưởng hay không đến tình trạng tổn thất hay mất mát của đối tượng bảo hiểm, hợp đồng bảo  hiểm cũng sẽ được hủy bỏ theo yêu cầu của người bảo hiểm.
Tuy vậy, nếu người được bảo hiểm chứng minh được sự ngay thẳng của mình, thì trừ phi có quy định ưu đãi hơn không kể, người bảo hiểm sẽ bảo đảm đền bù sự rủi ro theo tỷ lệ giữa bảo hiểm phí đã nộp so với bảo hiểm phí lẽ ra phải thu, trừ các trường hợp người bảo hiểm chứng minh được họ sẽ không bảo đảm nếu họ được biết những rủi ro ấy. Phí bảo hiểm do người bảo hiểm được hưởng trong trường hợp có sự gian lận của người được bảo hiểm.
2. Sửa đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Mọi sửa đổi trong quá  trình thực hiện hợp đồng, hoặc về những điều đã thỏa thuận khi ký kết, hoặc về đối tượng bảo hiểm, làm trầm trọng thêm khá rõ rệt tình trạng rủi ro, sẽ dẫn đến việc hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu những sửa đổi đó không được thống báo cho người bảo hiểm trong thời hạn ba ngày, kể từ khi người được bảo hiểm đã biết, (không kể những ngày nghỉ lễ), trừ phi người được bảo hiểm chứng minh được sự ngay thẳng của mình. Trong trường hợp này, sẽ áp dụng những quy định tại khoản hai của điều L. 172-2.
Nếu sự gia tăng mức rủi ro này không phải là do người được bảo hiểm gây ra, thì hợp đồng bảo hiểm vẫn được tiếp tục trên cơ sở nâng mức phí bảo hiểm tương ứng với mức trầm trọng phát sinh.
Mọi hợp đồng bảo hiểm ký kết sau khi thảm họa đã xảy ra, hay sau khi các đối tượng bảo hiểm hay tàu chuyên chở đã đến đích, sẽ không có giá trị nếu tin ấy đã được biết trước khi ký kết hợp đồng ở nơi hợp đồng được ký kết hay ở nơi ở của người được bảo hiểm hay người bảo hiểm.
3. Các nghĩa vụ của người bảo hiểm.
Người bảo hiểm có trách nhiệm về những tổn thất vật chất do những hiểm họa trên biển hay do một sự cố bất khả kháng gẫy ra cho các đối tượng bảo hiểm.Người bảo hiểm còn chịu trách nhiệm:
-  Về những tổn thất chung xảy ra đối với các đối tượng bảo hiểm, trừ phí tổn thất này lại do một sự rủi ro không được phép bảo hiểm gây ra.
- Về những chi phí đặt ra đối với một rủi ro được bảo hiểm để bảo vệ đối tượng bảo hiểm khỏi bị tổn thất về mặt vật chất  hay để hạn chế tổn thất.
Những rủi ro được bảo hiểm vẫn bảo đảm, ngay cả trong trường hợp có lỗi của người được bảo hiểm hay của những người thừa hành trên cạn của họ, trừ phi người bảo hiểm chứng minh được có sự tổn thất là do thiếu sự chăm sóc hợp lý về phía người được bảo hiểm để bảo về các đối tượng bảo hiểm khỏi những rủi ro bất trắc xảy ra.Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các lỗi cố ý hay nghiêm trọng của người dược bảo hiểm.
Người bảo hiểm cũng không bảo đảm những rủi ro
- Của chiến tranh nội chiến hay ngoại xâm, của mìn nổ và của tất cả các vũ khí khí tài;
- Của hành động cướp biển;
- Của việc bắt giữ hay giam cầm do tất cả các chính phủ hay nhà chức trách nào đó tiến hành;
- Của các cuộc nổi dậy, các phong trào quần chúng đình công, cấm xưởng, của các hành vi phá hoại hay khủng bố;
- Của những tổn thất do đối tượng bảo hiểm gây ra cho các tài sản hay người khác
- Của những hiểm họa do tác hại trực tiếp hạy gián tiếp của các vụ nổ; các vụ bốc nhiệt, các vụ phát xạ từ các sự phản ứng hạt nhân nguyên tử hay từ sự phóng xạ, cũng như các hiểm họa do tác hại của sự bức xạ gây ra bởi sự gia tốc nhân tạo của các phân tử.
Người bảo hiểm cũng không bảo đảm:
- Những tổn thất và mất mát vật chất do khuyết tật của chính đối tượng bảo hiểm gây ra, trừ những gì đã được quy định ở điều L. 173-4 về khuyết tật ẩn giấu của con tàu
- Những tổn thất và mất mát vật chất từ các khoản phạt tiền, tịch thu, tạm giữ, trưng dụng, biện pháp vệ sinh y tế tẩy uế khử trùng, hay gắn liền với những vi phạm lệnh phong tỏa trên biển, với những hành vi buôn lậu, buôn bán hàng bị cấm, hay buôn bán lén lút;
- Những khoản bồi thường thiệt hại hay những khoản bồi thường khác từ mọi cuộc tịch thu hay bảo lãnh tiến hành để được trả lại các vật bị tịch thu;
-Những thiệt hại không phải là những tổn thất và mất mát vật chất tác hại trực tiếp đến đối tượng được bảo hiểm, như: thất nghiệp chậm trễ, chênh lệch về thời giá, trở ngại cho hoạt động buôn bán kinh doanh của người được bảo hiểm.
4. Các nghĩa vụ của người được bảo hiểm.
Người được bảo hiểm phải:
a) Trở phí bảo hiểm và các chi phí khác, tại địa điểm và thời điểm đã thỏa thuận.
b) Có sự chăm sóc hợp lý đối với tất cả những gì liên quan tới con tàu hoặc hàng hóa.
c) Khi ký kết hợp đồng, thông báo chính xác tất cả những tình tiết mà mình đã biết cho phép người bảo hiểm đánh giá sự rủi ro mà họ đảm nhận.
d) Thông báo cho người bảo hiểm (trong chừng mực mà mình biết) tình trạng gia tăng các rủi ro nảy sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Việc không chi trả phí bảo hiểm cho phép người bảo hiểm hoặc đình chỉ, hoặc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm.
Sự đình chỉ hay sự hủy bỏ ấy chỉ có hiệu lực tám ngày sau khi đã gửi cho ngươi được bảo hiểm một bản yêu cầu bằíig thư có ghi số đòi phải chi trả; bức thư này được gửi tới nơi cư trú cuối cùng của họ mà người bảo hiểm biết được.
Sự đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm vì không đóng phí bảo hiểm, không có hiệu lực đối với người thứ ba ngay thẳng đã được hưởng sự chuyển giao quyền bảo hiểm trước khi có thông báo về việc đình chỉ hay hủy bỏ ấy.
Trong trường hợp đã xảy ra hiểm họa, theo một điều khoản được quy định rõ ràng trong bản sửa đổi hợp đồng, người bảo hiểm có thể đổi người được bảo hiểm phải đền bù đầy đủ phí chưa đóng cho bảo hiểm mà họ được hưởng.

4. Quy tắc đặc biệt

1. Bảo hiểm thân tàu (cũng gọi là bảo hiểm các con tầu) 
Bảo hiểm thân tàu được ký kết cho một chuyến đi, hoặc cho nhiều chuyên đi nối tiếp nhau, hoặc cho một thời gian nhất định.
- Với bảo hiểm chuyển đi sự bảo đảm có hiệu lực từ lúc bắt đầu bốc xếp cho đến lúc bốc dô xong, và chậm nhất là 15 ngày sau khi tàu đã tới đích.
Trong trường hợp chuyến đi không có hàng, sự bảo đảm bắt đầu từ lúc tàu tháo giây khỏi hành cho đến khi tàu tới đích bỏ neo, buộc giây.Với bảo hiểm định hạn những rủi ro của ngày đầu và ngày cuối cũng được bảo hiểm.
Các ngày được tính từ không giờ đến hai mươi bốn giờ theo giờ ở nơi đơn bảo hiểm được phát hành.
Người bảo hiểm không bảo đảm những tổn thất và mất mát xuất phát từ dị tật của tàu, trừ phi đó là một "ẩn tật"
Người bảo hiểm không bảo đảm những tổn thất và mất mát gây ra do lỗi cố ý của thuyền trưởng.
Khi giá trị được bảo hiểm của con tàu đã được chấp thuận, thì các bên không được tự đưa ra một sự đánh giá khác nhau.
- Bảo hiểm đi tới đích an toàn, chỉ có thể ký kết với sự đồng ý của những người bảo hiểm thân tàu, nếu không sẽ vô hiệu
Khi một khoản tiền được bảo hiểm dưới danh nghĩa này, lợi ích bảo hiểm được chứng minh ở chỗ khoản tiền bảo hiểm đó đã được chấp nhận bởi phía bên kia.
Người bảo hiểm, chỉ có trách nhiệm trong trường hợp con tàu bị mất toàn bộ, hay bị từ bỏ sau khi xảy ra sự rủi ro có đượ bảo hiểm; người bảo hiểm không có bất cứ một quyền hạn nào đối với những tài sản bị từ bỏ.
Trừ những tổn thất về người, người bảo hiểm phải bảo đảm đền bù những tổn thất về mọi mặt mà người được bảo hiểm có trách nhiệm trước yêu cầu của người thứ ba trong trường hợp tàu có bảo hiểm đã đâm va, hay đụng chạm vào một tàu khác, đang bỏ neo cố định, đang di chuyển hay trôi nổi.
Với bảo hiểm chuyến hay cho nhiều chuyến liên tục, toàn bộ phí bảo hiểm thuộc về người bảo hiểm được hưởng khi mà những rủi ro bắt đầu phát sinh.Với bảo hiểm định hạn, phí bảo hiểm quy định cho toàn bộ thời gian bảo hiểm thuộc về người bảo hiểm được hưởng trong trường hợp tàu bị tổn thất toàn bộ hay bị từ bỏ cho bên bảo hiểm phải gánh chịu. Nếu sự tổn thất tòan bộ hay trường hợp từ bỏ không thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm, phí bảo hiểm phải nộp theo thời gian đã trải qua cho đến khi có tổn thất toàn bộ hay có thông báo từ bỏ.
Trong việc giải quyết các tổn thất, người bảo hiểm chỉ phải đền bù những chi phí cho việc thay thế và sửa chữa được công nhận là cần thiết, để làm cho tàu trở lại tình trạng đi biển an toàn như trước, loại trừ mọi khoản bồi thường về giảm giá hay thất nghiệp hay vì bất cứ một nguyên nhân nào.
Không kể các sự cố xảy ra nhiều hay ít trong suốt thời gian bảo hiểm, người được bảo hiển được bảo đảm ở mỗi sự cố, cho cả mức vốn được bảo hiểm, trừ quyền của người bảo hiểm được đòi hỏi sau mỗi sự cố, một khoản phí bảo hiểm bổ sung. 
- Từ bỏ con tàu có nghĩa là chuyển quyền sở hữu con tàu cho nguời bảo hiểm để đòi lấy việc được chi trả toàn bộ số tiền  bảo đảm. Sự từ bỏ ấy có thể được thực hiện trong những trường hợp sau đây
a) Khi bị mất hoàn toàn;
b) Khi việc sửa chữa phổi tốn tới ba phần tư giá trị được chấp nhận;
c) Khi không thể sửa chữa được;
d) Khi không có tin tức gì từ ba tháng trở lên, sự mất mát có thể coi như đã xảy ra vào thời gian nhận được những tin tức cuối cùng.
Chuyển nhượng con tàu. Trong trường hợp có sự chuyển nhượng hay cho thuê tàu trần (coque-nue), hợp đồng bảo hiểm vẫn đương nhiên được tiếp tục đối với người chủ sở hữu hay người đứng thuê mới, với trách nhiệm là người này  phải thông báo cho người bảo hiểm biết trong thời hạn mười ngày và tiến hành tất cả những nghĩa vụ mà người được bảo hiểm có trách nhiệm đối với người bảo hiểm theo hợp đồng.
Tuy vậy, người bảo hiểm vẫn có quyền tùy ý mình hủy bỏ hợp đồng trong tháng, kể từ ngày họ nhận được thông báo về chuyển nhượng hay cho thuê tàu. Sự hủy bỏ này chỉ hiệu lực mười lăm ngày sau khi đã thông báo cho bên 1 biết về quyết định hủy bỏ ấy.
Người chuyển nhượng hay người cho thuê vẫn có trách  nhiệm phải chi trả những phí bảo hiểm đã đến hạn trước chuyển nhượng hay cho thuê tàu. Trong trường hợp có thuộc cộng đồng sỡ hữu của nhiều người, thì chỉ khi chuyển nhượng phần lớn các phần của con tàu đó ; r dụng điều khoản trên.Những điều khoản ở trên, cũng áp dung cả với những hợp đồng bảo hiểm cho con tàu chỉ được bảo hiểm  đậu trong các cảng, các vũng tàu hay các nơi khác, dù là đậu trên biển hay trên bến cảng. Những điều khoản ấy cũng được áp dụng cho các tàu đang được đóng
2. Các bảo hiểm tài sản ( thực ra là bảo hiểm hàng hóa Bộ luật bảo hiểm).
Các hàng hóa được bảo hiểm, hoặc bởi một đơn bảo hiểm chỉ có hiệu lực cho một chuyến đi, hoặc bởi một bảo hiểm nổi có giá trị cho nhiều chuyến đi.Các hàng hóa được bảo hiểm liên tục, ở bất cứ nơi nào mà nó được vận chuyển qua, trông giới hạn của chuyến đi quy định trong hợp đồng bảo hiểm.
Khi một phần của chuyến đi được thực hiện qua đường bộ, đường sông hay đường hàng không, những quy tắc bảo hiểm hàng hải được vận dụng cho toàn thể các chuyến đi.Từ bỏ tài sản nghĩa là sự chuyển giao quyền sở hữu các hàng hóa cho người bảo hiểm, để đổi lấy việc chi trả cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền được bảo đảm. Sự từ bỏ  có thể được thực hiện trong các trường hợp các hàng hóa Mất mát hoàn toàn.Mất hay bị hư hỏng tối ba phần tư giá trị các hàng hóa Bán đi trong qúa trình vận chuyển vì đối tượng bảo hiểm tổn thất về mặt vật chất do một sự rủi ro đã được bảo đảm ấy còn có thể diễn ra trong những trường hợp sau
a) Khi tàu đã mất khả năng đi biển và nếu việc chuyển vận hàng hóa bằng bất cứ phương tiện nào khác cũng không thể bắt đầu thực hiện được trong thời hạn ba tháng;
b) Khi không có tin tức về chiếc tàu từ ba tháng trở lên.
Trong trường hợp người được bảo hiểm đã ký một hợp đồng bảo hiểm nổi mà không chịu tuân thủ những nghĩa vụ đã được sắc lệnh quy định, thì hợp đồng bảo hiểm có thể bị hủy bỏ ngay lập tức theo yêu cầu của người bảo hiểm. Ngoài ra, người bảo hiểm còn có quyền đòi phí bảo hiểm về các chuyến đi không khai báo. Nngưòi được bảo hiểm là người thiếu trung thực, người bảo hiểm có thể thực hiện quyền đòi bồi hoàn những khoản mà họ đã chi trả cho những hiểm họa có liên quan tới những chuyến đi tiến hành sau lần cố tình bỏ sót đầu tiên của người được bảo hiểm.
3. Bảo hiểm trách nhiệm (điều L.173-23 Bộ luật về bảo hiểm).
Bảo hiểm trách nhiệm cho phép người được bảo hiểm bồi hoàn nếu người thứ ba đã được đền bù, trừ trường hợp đưa tiền bồi thường bảo hiểm vào thành lập qũy hữu hạn, điều 62 của luật số 67-5 ngày 3-1-1967 về quy chế các tàu và các công cụ hàng hải khác.
Trong trường hợp thành lập qũy hữu hạn, thì những người chủ nợ, mà quyền hạn bị hạn đính theo các điều 58 và 60 của luật số 57-5 ngày 3-1-1967 về quy chế các tàu và các phương tiện hàng hải khác, không có quyền khiếu nại đối với người bảo hiểm.Bảo hiểm trách nhiêm với mục đích là bồi thương những thiệt hại do tàu gây ra cho người thứ ba

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật  - Công ty luật Minh Khuê