1. Quyền định đoạt là gì?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì có quy định về quyền định đoạt, theo đó thì tại Điều 192 có quy định quyền định đoạt như sau:
Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.
Điều kiện thực hiện quyền định đoạt như sau:
- Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật.
- Trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó.
Theo đó thì chủ sở hữu có quyền định đoạt đó là chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật với tài sản.
Tuy nhiên thì quyền định đoạt cũng bị hạn chế. Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật định. Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử- văn hóa theo quy định của luật si sản văn hóa thì nhà nước có quyền ưu tiên mua. Trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.
2. Điều kiện di chúc hợp pháp
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo đó thì để một di chúc hợp pháp thì cần phải tuân thủ theo các quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
- Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
+ Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
- Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015
- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
3. Quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi.
Quy định quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi được quy định tại Án lệ số 34/2020/AL về quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất trong trường hợp nhà nước thu hồi đất có bồi thường. Nguồn gốc của án lệ là từ quyết định giám đốc thẩm số 58/2018/DS-GĐT ngày 27-9-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án dân sự “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” tại tỉnh Vĩnh Phúc giữa nguyên đơn là ông Trần Văn Y với bị đơn là Phòng công chứng M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyên Văn D1"
Căn cứ theo quy định tại án lệ số 34/2020/AL thì di sản của cụ D, cụ C để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13 đã bị thu hồi theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 21-7-2010 của Ủy ban nhân dân thành phố V nhưng giá trị quyền sử dụng đất của người có đất bị thu hồi vẫn được pháp luật bảo đảm theo quy định của Luật Đất đai nên hai cụ có quyền lập di chúc định đoạt tài sản trên cho ông D1
Theo quy định tại Điều 45, Luật Công chứng 2014 thì người có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu gồm có: “Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Theo đó thì tuyên bố một văn bản công chứng vô hiệu thì chỉ những người có quyền đề nghị tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu như công chứng viên, người có yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có quyền yêu cầu.
Như vậy thì dựa vào các quy định ở phần trên mà chúng tôi cung cấp cùng với nội dung của Án lệ số 34/2020/AL về quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất trong trường hợp nhà nước thu hồi đất có bồi thường thì chúng ta có thể đưa ra kết luận rằng chủ sở hữu có quyền định đoạt đối với tài sản của mình có quyền thừa kế, tặng cho, mua bán....theo quy định của pháp luật. Và những giao dịch có liên quan đến thừa kế, tặng cho hay mua bán thì đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật.
4. Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc ủy ban nhân dân cấp xã.
Căn cứ theo quy định tại Điều 636 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc ủy ban nhân dân cấp xã được quy định như sau:
Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:
Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.
Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.
Những người không được công chứng, chứng thực di chúc bao gồm: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc. Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Các bạn có thể tham khảo thêm một số nội dung bài viết sau đây:
- Quyền định đoạt là gì ? Quyền định đoạt tài sản có bị hạn chế không?
- Di chúc của một người định đoạt cả tài sản chung vợ chồng có hợp pháp hay không?
Mong rằng những nội dung mà chúng tôi cung cấp cho các bạn đã giúp ích cho các bạn trong việc tìm hiểu về quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất trong trường hơp nhà đất bị nhà nước thu hồi có bồi thường. Nếu cá bạn còn có câu hỏi thắc mắc khác có liên quan thì liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại tư vấn pháp luật thừa kế: 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn