1. Khái niệm quyền miễn trừ tư pháp trong tư pháp quốc tế

Miễn trừ tư pháp của quốc gia được hiểu là quốc gia không bị mang ra xét xử tại tòa án; không bị áp dụng các biện pháp bảo đảm sơ bộ: không bịu áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án; tài sản của quốc gia là bất khả xâm phạm nếu như không có sự đồng ý của quốc gia đó.

Quyền miễn trừ của quốc gia  là tổng hợp các quy định và các nguyên tắc pháp lý mà trên cơ sở đó quốc gia và các cơ quan của quốc gia không phải tuân theo thẩm quyền tài phán của quốc gia nước ngoài. Quyền miễn trừ quốc gia là một trong những nguyên tắc lâu đời trong quan hệ quốc tế, được xem như hàng rào bảo vệ cho quốc gia tại cơ quan tài phán của quốc gia nước ngoài.

Quyền miễn trừ quốc gia là đặc quyền của quốc gia khi tham gia vào các quanheej dân sự có yếu tố nước ngoài ,theo đóquốc gia sẽ không chịu sự tài phán của cơ quan tư pháp mà chủ yếu là  tòa án quốc gia của quốc gia khác.

Mục đích chính của quyền miễn trừ quốc gia là nhằm đảm bảo các quốc gia có thể thực hiện một cách thuận lợi các chức năng đối ngoại và đối nội của mình thông qua việc đảm bảo cho quốc gia không phải tham gia vào các thủ tục tố tụng tại quốc gia nước ngoài.

Như vậy, quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế có thể được hiểu là quyền đặc biệt của quốc gia – chủ thể có thuộc tính chính trị pháp lý là chủ quyền - khi tham gia vào các quan hệ dân sự, thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài với các thể nhân, cơ quan, tổ chức, theo đó, quốc gia sẽ không chịu sự tài phán của các cơ quan tư pháp của quốc gia khác (mà chủ yếu là tòa án quốc gia) trong quá trình giải quyết vụ việc phát sinh từ quan hệ có yếu tố nước ngoài trên nếu không được sự chấp thuận của quốc gia.

Chủ quyền quốc gia và nguyên tắc “bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia” – một nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện đại - chính là cơ sở của quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế

2. Các quan điểm khác nhau về quyền miễn trừ của quốc gia

Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế đã được thừa nhận trong pháp luật quốc tế (các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế) và pháp luật hầu hết các nước. Tuy nhiên, pháp luật của các nước lại có những quan điểm khác nhau về mức độ hưởng quyền này của quốc gia. Về cơ bản có hai quan điểm chính về vấn đề này:

Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tuyệt đối, nghĩa là quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất kỳ trường hợp nào. Những người theo quan điểm này xuất phát từ chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không có quyền vượt lên trên chủ quyền quốc gia. Thậm chí, quyền miễn trừ này còn được mở rộng cho người đứng đầu của quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với tư cách người đứng đầu quốc gia hay tư cách cá nhân. Cần nhận thức rõ vấn đề ở đây, khi thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối thì điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế. Việc quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ tuyệt đối của mình phải được thể hiện rõ rang bằng các quy định trong hợp đồng, trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà quốc gia kí kết hoặc tham gia, bằng con đường ngoại giao.

>> Xem thêm:  Quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là gì ?

Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tương đối (miễn trừ chức năng), do các học giả của các nước theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ khả năng hưởng quyền miễn trừ của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại quốc tế. Học thuyết này nhanh chóng được các nước khác ủng hộ và cụ thể hóa vào các đạo luật quốc gia. Theo học thuyết này, quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế sẽ được hưởng quyền miễn trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự. Tuy nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không được hưởng quyền này mà phải tham gia với tư cách một chủ thể dân sự như các chủ thể thông thường khác. Như vậy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia, nhưng lại hạn chế những trường hợp mà quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ.

                                    

Về cơ bản, phần lớn các quốc gia đều thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế. Tuy nhiên, mức độ chấp nhận phạm vi của quyền miễn trừ của quốc gia ở các quốc gia là khác nhau. Thực tiễn trên cho thấy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia đang có phạm vi ảnh hưởng ngày càng rộng và ngày càng có nhiều quốc gia chấp nhận. Đây cũng là một xu thế phát triển của TPQT hiện đại.

Có thể nhận thấy, học thuyết miễn trừ tương đối không hoàn toàn mâu thuẫn với học thuyết miễn trừ tuyệt đối, mà nó chính là sự phát triển của học thuyết miễn trừ tuyệt đối, giúp hoàn thiện những điểm bất cập mà học thuyết miễn trừ tuyệt đối đã bộc lộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Học thuyết miễn trừ tương đối vẫn mang trong mình những nội dung của học thuyết miễn trừ tuyệt đối – hình thành trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia

3. Chủ thể được hưởng quyền miễn trừ tư pháp

Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia được hình thành trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia. Chính vì vậy, các điều ước quốc tế cũng như pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận quốc gia – thực thể có thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời là chủ quyền– được hưởng quyền miễn trừ tư pháp khi tham gia vào các quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, với sự thay đổi trong chức năng của quốc gia và cơ cấu tổ chức của chính phủ, các chủ thể được hưởng quyền miễn trừ tư pháp với tư cách của một “quốc gia” cũng đã được mở rộng. Theo đó các chủ thể sau sẽ được hưởng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia:

3.1 Quốc gia và các cơ quan chính phủ quốc gia

Bên cạnh quốc gia thì “chính phủ” - cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì, đảm bảo hoạt động của một quốc gia - là chủ thể được hưởng quyền miễn trừ tư pháp theo quy định của hầu hết các nước. Điều 14 UK SIA, Điều 16 Singapore SIA, Nam Phi FSIA,... đều ghi nhận, khái niệm “quốc gia nước ngoài” bao gồm: “Chính phủ của quốc gia nước ngoài” và “Bất kỳ cơ quan nào của chính phủ" (...). Trên cơ sở tổng hợp các quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử của các nước, tại khoản 1 Điều 2 Công ước UNJISP cũng đã quy định: “quốc gia” bao gồm: “Quốc gia và các cơ quan của chính phủ của quốc gia đó (...)”.

3.2 Các bang của nhà nước lên bang

Các bang của nhà nước liên bang là những thực thể đặc biệt, có vị trí như một “quốc gia” trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia liên bang dù không có chủ quyền quốc gia và đôi khi, có thẩm quyền lớn hơn so với các đơn vị hành chính của một quốc gia đơn nhất. Chính vì vậy, về tư cách hưởng quyền miễn trừ tư pháp của những thực thể này, hiện nay có hai quan điểm như sau: + Quan điểm thứ nhất cho rằng, các bang của quốc gia liên bang không được xem là một quốc gia nên không được hưởng quyền miễn trừ của quốc gia. Quan điểm trên 25 được thể hiện tại Điều 28 của Công ước Basel 1972: “(…)các bang của một quốc gia liên bang không được hưởng quyền miễn trừ” trừ trường hợp một quốc gia liên bang (thành viên của Công ước) gửi thông báo đến Tổng thư ký của Hội đồng châu Âu tuyên bố rằng các bang của mình có thể viện dẫn những quy định được áp dụng cho những quốc gia thành viên của Công ước này và có những nghĩa vụ tương tự. Như vậy, tư cách hưởng quyền miễn trừ tư pháp của các bang trong một quốc gia liên bang không phải đương nhiên được hình thành mà là do các quốc gia liên bang trao cho. Hiện nay có 3 thành viên của Công ước Basel 1972 đã đưa ra tuyên bố này đó là Đức, Bỉ và Áo [13, tr334]. Quan điểm này được một số nước như Pháp, Nam Phi,… ủng hộ và thể hiện trong pháp luật nước mình. Khoản 2 Điều 1 Nam Phi FSIA đã quy định khái niệm “quốc gia nước ngoài” sẽ không bao gồm: “bất kỳ phần lãnh thổ nào tạo thành một bang trong nhà nước liên bang nước ngoài”. + Quan điểm thứ hai thừa nhận các bang trong nhà nước liên bang sẽ được hưởng quyền miễn trừ tư pháp như một quốc gia. Điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước UNJISP đã thể hiện quan điểm trên thông qua việc thừa nhận khái niệm “quốc gia” theo quy định của Công ước bao gồm cả “các bang của quốc gia liên bang”. Như vậy, Công ước này đã khẳng định một cách trực tiếp tư cách chủ thể hưởng quyền miễn trừ tư pháp của các bang. Tuy nhiên, những thực thể này sẽ chỉ được hưởng quyền miễn trừ nếu thực hiện các hoạt động nhằm thực hiện chủ quyền quốc gia và trong phạm vi thẩm quyền của mình.

>> Xem thêm:  Tư pháp quốc tế là gì ? Tìm hiểu về một số vấn đề liên quan đến tư pháp quốc tế ?

3.3 Các đơn vị hành chính của quốc gia

Theo Black’s law Dictionary thì đơn vị hành chính của quốc gia (political subdivisions) được hiểu là đơn vị hay bộ phận chủ yếu của một nhà nước tồn tại để thực hiện một số chức năng của chính quyền địa phương. Khi nói đến quốc gia với tư cách là chủ thể được hưởng quyền miễn trừ, pháp luật của các nước cũng như các điều ước quốc tế đều thừa nhận tư cách hưởng quyền miễn trừ của các đơn vị hành chính của quốc gia, Tuy nhiên, giống như các bang của quốc gia liên bang, các đơn vị hành chính của quốc gia cũng sẽ chỉ được hưởng quyền miễn trừ 26 dưới tư cách một quốc gia nếu các đơn vị hành chính này thực hiện các hoạt động nhằm thực thi chủ quyền quốc gia và trong phạm vi thẩm quyền được giao.

3.4 Các cơ quan quốc gia và thực thể được trao quyền 

Quyền miễn trừ tư pháp của các cơ quan của quốc gia hoặc các thực thể khác được trao quyền cũng được ghi nhận trong các điều ước quốc tế cũng như trong các văn bản pháp luật của các quốc gia. Công ước UNJISP 2004 ghi nhận “các cơ quan hoặc người thực hiện nhiệm vụ của nhà nước hoặc các thực thể khác” nằm trong khái niệm “quốc gia” là chủ thể được hưởng các quyền miễn trừ tư pháp theo quy định của Công ước. , các cơ quan của quốc gia hoặc các thực thể khác sẽ chỉ được hưởng quyền miễn trừ tư pháp như một quốc gia khi thực thể đó được trao quyền và đang thực hiện các hành vi mang tính chất chủ quyền quốc gia

Người đại diện các cơ quan thực hiện các hoạt động trong phạm vi được trao quyền: Thực tiễn xét xử cho thấy, trong nhiều trường hợp, các cá nhân, pháp nhân nước ngoài không khởi kiện một quốc gia hay một cơ quan của chính phủ mà thường khởi kiện đối với người đứng đầu của cơ quan đó. Tuy nhiên, hoạt động của người đại diện của quốc gia là hoạt động thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao; chính vì vậy, người đại diện của quốc gia khi thực hiện các hoạt động đó cũng sẽ được hưởng quyền miễn trừ như một quốc gia. Như vậy, trong số những chủ thể được hưởng quyền miễn trừ với tư cách là người đại diện của quốc gia sẽ có thể có viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự. Các chủ thể trên là những chủ thể sẽ được hưởng quyền miễn trừ dưới hai tư cách: Thứ nhất, họ sẽ được hưởng quyền miễn trừ với tư cách cá nhân, Thứ hai, với tư cách là người đại diện, cơ quan đại diện của quốc gia, các cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự, viên chức ngoại giao,.. sẽ được hưởng quyền miễn trừ đối với các hoạt động mang tính chất chủ quyền quốc gia với tư cách như một quốc gia chứ không phải với tư cách cá nhân.

  • CSPL ĐIỂM b K2Đ 2 CỦA CƯLHQ
  • Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162.

    Trân trọng./.

    Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê.