1. Giới hạn quyền sở hữu là gì?

Giới hạn quyền sở hữu là phạm vi mà pháp luật xác định cho chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình.

Chủ sở hữu có quyền sử dụng, chiếm hữu, định đoạt đối với tài sản theo ý chí của mình nhưng phải tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Theo Bộ luật dân sự 2015 thì trong khi thực hiện quyền sở hữu của mình, có một số trường hợp chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản có thể bị giới hạn quyền. Đó là:

- Trong tình thế cấp thiết.

- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường.

- Nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

- Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng.

2. Tình thế cấp thiết là gì? Tài sản bị thiệt hại do tình thế cấp thiết có được bồi thường không?

Điều 171 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước mới nhất năm 2021

Điều 171. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết

1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.

2. Trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.

3. Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật này.

Như vậy một sự kiện được coi là tình thế cấp thiết khi đáp ứng đầy đủ các yếu tố sau:

- Tồn tại một nguy cơ thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Nguy cơ đó chưa xảy ra nhưng phải có đầy đủ các dấu hiệu cho rằng nó chắc chắn sẽ xảy ra. Nguyên nhân gây ra tình thế cấp thiết có thể xuất phát từ hành vi của con người hoặc do những tác động của thiên nhiên và tự thân tài sản.

- Hành vi gây thiệt hại cho tài sản của người khác phải là biện pháp tối ưu và hiệu quả nhất mà người gây thiệt hại sử dụng để giảm thiểu một cách tối đa nhất thiệt hại xảy ra. Có thể nói đây là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn xét trong bổi cảnh cụ thể lúc đó và có nghĩa là người gây thiệt hại phải chứng minh được là hành vi của mình là “không còn cách nào khác”.

- Thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa vì mục đích của việc áp dụng các biện pháp trong tình thế cấp thiết là nhằm ngăn chặn thiệt hại xảy ra hoặc hạn chế phần nào thiệt hại. Người gây thiệt hại lại phải chứng minh được con số của thiệt hại cần ngăn chặn là bao nhiêu và nó phải lớn hơn thiệt hại mà họ đã thực tể gây ra. Xét về tổng quan chung thì những giá trị nhân thân như tính mạng, sức khỏe của con người là vô giá nên bất cứ thiệt hại về vật chất nào đã gây ra để bảo vệ các giá trị trên thì đều là họp pháp. Chỉ có những thiệt hại về tài sản gây ra nhằm tránh cho một thiệt hại khác cũng về tài sản thì phép so sánh mới được đặt ra.

Khi xảy ra tình thế cấp thiết thì chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra. Hay nói cách khác, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản trong bối cảnh này là không hành động.

Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản.

3. Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải bồi thường trong trường hợp nào?

Điều 595 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

Điều 595. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.

2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Như vậy, chủ thể phải bồi thường trong tình thế cấp thiết được xét trong các trường hợp sau đây:

+ Hai chủ thể cùng phải bồi thường: Người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết và Người đã gây ra tình thế cấp thiết. Mức bồi thường của người gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết chỉ là mức thiệt hại vượt quá, còn mức bồi thường của người gây ra tình thế cấp thiết là những thiệt hại cần ngăn chặn;

>> Xem thêm:  Tội xâm phạm sở hữu là gì ? Các tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu

+ Một chủ thể phải bồi thường: Chỉ có người gây ra tình thế cấp thiết phải bồi thường bởi người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết đã đáp ứng đúng yêu cầu;

+ Không chủ thể nào phải bồi thường: Khi nguyên nhân gây ra thiệt hại nằm ngoài con người. Trường hợp nguy cơ gây thiệt hại là do thiên nhiên gây ra (lũ lụt, bão, cháy, động đất...) thì trách nhiệm bồi thường trong tình thế cấp thiết không đặt ra mà phải coi là rủi ro mà chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải gánh chịu.

4. Giới hạn quyền sở hữu trong vấn đề bảo vệ môi trường.

Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Gây ô nhiễm môi trường là hành động làm biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường. Điều này được ghi nhận tại Điều 172 Bộ luật dân sự 2015:

Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.

Trong khi thực hiện quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản mà chủ thể gây thiệt hại cho môi trường, tức là đã xâm phạm đến lợi ích chung, lợi ích công cộng thì phải chịu trách nhiệm về hành vi này.

Các biện pháp bảo vệ môi trường được áp dụng như: Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại ngay cả khi những chủ thể này không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại theo quy định tại Điều 602 Bộ luật này.

5. Nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của chủ sở hữu.

Trật tự an toàn xã hội là tình trạng ổn định, có trật tự kỷ cương của xã hội. Trật tự, kỷ cương đó được xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do nhà nước quy định và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức truyền thống được mọi người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng và tuân thủ. Do đó khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì các chủ thể cũng phải tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Điều 173 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 173. Nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không được lạm dụng quyền để gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Theo công thức chung cho chủ sở hữu và các chủ thể có quyền khác đối tài sản khi thực hiện quyền của mình là không được xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Giữa lợi ích công và lợi ích tư thì các chủ thể dân sự chỉ được hưởng lợi ích khi tôn trọng lợi ích công, lợi ích chung.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền tham gia đấu giá tài sản, đất đai mới 2021

6. Chủ sở hữu có nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng.

Tại Điều 174 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

"Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh."

Một số quy tắc xây dựng cần phải tuân thủ như:

- Phải tuân theo pháp luật xây dựng như phải có giấy phép xây dựng;

- Phải bảo đảm an toàn, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bẩt động sản liền kề và xung quanh;

- Không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định.

Nếu chủ thế vi phạm nguyên tắc nêu trên thì có thể phải chịu xử phạt hành chính, buộc tháo dỡ công trình đã xây dựng hoặc phải chịu trách nhiệm dân sự như bồi thường thiệt hại về tài sản đã gây ra. Nếu gây thiệt hại về người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xét lại quy định tại Bộ luật dân sự năm cũ, tại khoản 2 Điều 267 thì chỉ cần có “nguy cơ” xảy ra sự cố đối với công trình xây dựng, ảnh hưởng đến bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu công trình phải cho ngừng ngay việc xây dựng, sửa chữa hoặc dỡ bỏ theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định này đã trao cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quyền năng quá lớn dẫn đến việc nhiều chủ thể đã dựa vào quy định này để yêu cầu chủ công trình phải bồi thường quá lớn so với thiệt hại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Quyền hưởng dụng là gì ? Phân tích nội dung quyền hưởng dụng theo luật ?

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Sở hữu là gì ? Phân tích sự hình thành sở hữu của xã hội loài người ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Sử dụng tài sản mà gây ô nhiễm môi trường thì có phải chịu trách nhiệm không?

Trả lời:

Điều 172 Bộ luật dân sự 2015:

Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.

Câu hỏi: Gây thiệt hại tài sản trong tình thế cấp thiết có phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu không?

Trả lời:

Điều 171 Bộ luật dân sự 2015:

Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật này.

Câu hỏi: Chủ sở hữu có quyền ngăn cản người khác dùng tài sản của mình trong tình thế cấp thiết không?

Trả lời:

Điều 171 Bộ luật dân sự 2015:

Trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.