Vì vậy, để tránh việc khai thác và sử dụng các giá trị của tác phẩm, công trình khoa học của tác giả là công dân nước này trên lãnh thổ nước khác mà không được sự đồng ý của tác giả đó, giữa các quốc gia kí kết hoặc thoả thuận với nhau việc bảo hộ quyển tác giả của công dân nước sở tại ở nước ngoài và công dân nước ngoài ở nước sở tại. Thuật ngữ “quyền tác giả trong tư pháp quốc tế" ra đời từ thực tiến đó của đời sống quốc tế.

Từ cuối thế kỉ XIX đến nay, giữa các quốc gia đã có nhiều cố gắng thiết lập hệ thống pháp luật nhằm bảo hộ quyền tác giả. Vì vậy, đã có nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương ra đời rất sớm và được nhiều quốc gia tham gia kí kết, chẳng hạn, Công ước Becnơ (Beme, năm 1886), Công ước Giơnevơ (năm 1952). Ngoài các Hiệp định song phương về bảo hộ quyền tác giả, Việt Nam đã tham gia kí kết Công ước Giơnevơ, Công ước Becnơ. Hiện nay trên thế giới, việc bảo hộ quyền tác giả của các quốc gia được thể hiện dưới các hình thức: tham gia kí kết điều ước đa phương, kí kết điều ước song phương, theo nguyên tắc có đi có lại giữa các quốc gia với nhau.

Bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam được quy định tại Bộ luật dân sự năm 1995 và tiếp tục được ghỉ nhận trong Bộ luật dân sự năm 2005. Theo đó, tác giả là người Việt Nam có tác phẩm, công trình công bố hoặc sử dụng lần đầu tiên ở nước ngoài thì được hưởng quyền tác giả theo pháp luật nước đó. Tác giả là người nước ngoài có tác phẩm, công trình khoa học được công bố hoặc sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam thì được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam hoặc theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, kí kết.

1. Khái niệm về quyền tác giả và quyền liên quan ?

Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật sở hữu trí tuệ), tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu (Điều 14).

Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Tác phẩm được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức cùa văn bản đó, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.

Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả.

Nội dung quyền tác giả được bảo hộ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân bao gồm (Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ):

- Đặt tên cho tác phẩm;

>> Xem thêm:  Khi nào sử dụng bản quyền mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao?

- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 29 Luật sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân của người biểu diễn bao gồm:

- Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;

- Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Quyền tài sản của người biểu diễn bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

- Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;

- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình;

- Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường họp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;

>> Xem thêm:  Dịch vụ đăng ký bảo hộ bản quyền tác phẩm kiến trúc

- Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kì phương tiện kĩ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.

Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền tài sản của người biểu diễn phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận trong trường họp pháp luật không quy định.

Điều 30 Luật sở hữu trí tuệ quy định nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;

- Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản liên quan, nếu có yếu tố nước ngoài, thì đưong nhiên thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế.

2. Đặc điểm, vai trò quyền tác giả có yếu tố nước ngoài

Thực tiễn cho thấy trong quan hệ về quyền tác giả, nhiều khi chủ thể là cá nhân, tổ chức mang quốc tịch của quốc gia khác hoặc cư trú, đặt trụ sở ở quốc gia khác. Cá nhân đó có thể là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hoặc là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả; tổ chức đó có thể là chủ sở hữu quyền tác giả và cũng có thể là tổ chức khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền của tác giả, của chủ sở hữu quyền tác giả.

Trong quan hệ về quyền liên quan, chủ thể có thể là tổ chức, cá nhân mang quốc tịch của quốc gia khác hoặc cư trú, đặt trụ sở ở quốc gia khác. Họ gồm người biểu diễn, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền của người biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền của nhà nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình; tổ chức phát sóng, người thực hiện các quyền của tổ chức phát sóng.

Không ít trường hợp tuy chủ thể không là cá nhân, tổ chức mang quốc tịch quốc gia khác hoặc cư trú, đặt trụ sở ở quốc gia khác, nhung đối tượng được bảo hộ của quyền tác giả là tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được sáng tạo và được thể hiện đầu tiên trên lãnh thổ của quốc gia khác dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phưong tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký; đối tượng được bảo hộ của quyền liên quan là cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá được định hình hoặc thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác mà không gây phương hại đến quyền tác giả.

>> Xem thêm:  Dịch vụ đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả tại Việt Nam

Thực tiễn cũng cho thấy có trường hợp chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan không là cá nhân, tổ chức mang quốc tịch của quốc gia khác hoặc cư trú, đặt trụ sở ở quốc gia khác, đối tượng được bảo giả, quyền liên quan là tính vô hình, tính phi vật chất nên rất dễ phổ biến, khai thác rộng rãi. Từ đặc điểm này của tài sản trí tuệ đã đưa lại một đặc điểm rất đáng quan tâm của quyền tác giả là khả năng bị xâm phạm quyền là rất lớn, và sự xâm phạm có thể diễn ra trong phạm vi rộng ở nhiều quốc gia. Sở dĩ như vậy bởi đối tượng của loại quyền này là các tài sản trí tuệ, những tài sản vô hình, những loại tài sản này không có bản chất vật lý, con người không thể nhận biết sự tồn tại của chúng nhờ các giác quan, chúng tồn tại dưới dạng các thông tin, tri thức chứa đựng sự hiểu biết về tự nhiên, xã hội, con người và con người ứng dụng các hiểu biết đó nhằm khai thác, chế ngự, cải tạo thiên nhiên nhằm phục vụ cho các nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của con người.

- Đặc điểm thứ hai của quyền tác giả và quyền liên quan là các quyền này bị giới hạn bởi yếu tố lãnh thổ, nghĩa là quyền tác giả, quyền liên quan phát sinh theo pháp luật nước nào thì chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ nước đó mà thôi. Điều đó có nghĩa là khi tác phẩm được sao in, dịch... ở nước ngoài mà không có sự đồng ý của tác giả thì rõ ràng đã ảnh hưởng đến lợi ích và danh tiếng của tác giả, nhưng xét dưới góc độ pháp lý thì tác giả cũng không có quyền yêu cầu bảo hộ quyền lợi chính đáng cho mình. Đó là điều bất họp lý, ảnh hưởng không chỉ quyền lợi của tác giả mà ngay cả những người được thụ hưởng khác như công chúng cũng sẽ không có cơ hội được sử dụng một tác phẩm hợp pháp... Khó khăn do đặc trưng lãnh thổ vì thế không thể được coi là trở ngại không thể vượt qua. Thế giới cần có một trật tự pháp lý chung về vấn đề này, một mặt để bảo vệ quyền lợi chính đáng của tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, của các ngành công nghiệp như in ấn, xuất bản..., mặt khác là lợi ích của cả cộng đồng, của xã hội nói chung. Làm thế nào và thông qua cơ chế nào để tác giả, tác phẩm của nước này được bảo vệ tại nước khác và dịch vụ của từng doanh nghiệp, từng ngành kinh tế - kĩ thuật cũng như của cả một quốc gia trong bối cảnh tự do hoá thương mại và khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế. Trong khi đó, như đã trình bày ở mục 1.3 nêu trên, những sản phẩm sáng tạo trí tuệ rất dễ bị sao chép, đánh cắp, bị làm nhái, làm giả, gây tổn hại nghiêm trọng về mặt vật chất cũng như tinh thần cho các cá nhân, tổ chức là tác giả, chủ sở hữu, và cho cả người có quyền sử dụng hợp pháp các sản phẩm này. Có thể nói tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả, quyền liên quan đã, đang là vấn đề rất nhức nhối trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển và đang tác động xấu tới sự phát triển giao lưu kinh tế, thương mại trong nội bộ từng quốc gia và trên phạm vi khu vực và thế giới.

Việc điều chỉnh pháp lý các quan hệ về sở hữu trí tuệ nói chung, về quyền tác giả, quyền liên quan nói riêng trong phạm vi nội bộ quốc gia cũng như trong trường hợp các quan hệ này có yếu tố nước ngoài là nhằm thừa nhận và tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của các cá nhân, tổ chức của quốc gia mình cũng như cá nhân, tổ chức của quốc gia khác đầu tư tiền của, sức lực tạo ra các tài sản trí tuệ, và của cả những người có quyền sử dụng hợp pháp những tài sản này theo quy định của pháp luật.

Việc điều chỉnh pháp lý có hiệu quả các quan hệ này có ý nghĩa cực kì quan trọng vì nó không chỉ khuyến khích mạnh mẽ các hoạt động lao động làm ra nhiều sản phẩm sáng tạo trí tuệ cho xã hội mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo đảm sự công bằng, cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy mạnh mẽ giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ và văn hoá trong phạm vi quốc gia cũng như khu vực và quốc tế.

Vì những lý do nêu trên, trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình, ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt các quốc gia phát triển và các quốc gia mới nổi, đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện mọi biện pháp để đẩy mạnh phát triển hoạt động sáng tạo ra tài sản phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học xuất hiện lần đầu tiên trên lãnh thổ của mình và các quyền tác giả, quyền liên quan này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ nơi nó được bảo hộ. Chính vì vậy xảy ra tình trạng tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học này bị sao chép, đánh cắp, khai thác, sử dụng ở các quốc gia khác mà không bị ngăn chặn, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của tác giả, chủ sở hữu và những người có quyền sử dụng hợp pháp các tác phẩm đó.

Do sự giao lưu quốc tế về dân sự, kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ và văn hoá ngày càng phát triển, quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng phát triển. Thực trạng này đặt ra yêu cầu đối với các quốc gia, một mặt phải quy định ngày càng rõ ràng và cụ thể trong pháp luật quốc gia về vấn đề bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan nói chung và quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài nói riêng, mặt khác phải đẩy mạnh việc hợp tác, ký kết các điều ước quốc tế song phương và đặc biệt là các điều ước quốc tế đa phương nhằm bảo hộ các quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức mang quốc tịch quốc gia mình trên lãnh thổ các quốc gia khác cũng như của cá nhân, tổ chức mang quốc tịch quốc gia khác liên quan trên lãnh thổ của quốc gia mình.

Điển hình là các điều ước quốc tế đa phương sau đây: Công ước Beme 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (8 lần sửa đổi, bổ sung) Công ước toàn cầu về quyền tác giả 1952 (1 lần sửa đổi, bổ sung); Công ước về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng 1961; Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống lại việc sao chép không được phép các bản ghi âm của họ 1971; Công ước về việc phát các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh 1974; Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ 1994; Hiệp ước quyền tác giả 1996 và Hiệp ước về biểu diễn và bản ghi âm 1996.

Với các điều ước quốc tế đa phương này, có thể nói hệ thống bảo hộ quốc tế quyền tác giả, quyền liên quan đã được thiết lập từ cuối và song phương để nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh pháp lý các quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan nói chung và quyền tác giả, quyền liên quan có yếu tố nước ngoài nói riêng.

3. Quyền sở hữu công nghiệp là gì?

Khoa học, kĩ thuật, công nghệ không chi là sảng tạo đơn thuần của con người mà đã trở thành bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất có tỉnh chất quyết định đến năng suất lao động. Tuy nhiên, sản phẩm “khoa học, kĩ thuật” ma con người tạo ra lại có những nét đặc chủ không giống như các vật phẩm khác, đó là những vật phẩm võ hinh mà bản thán người tạo ra nó không thế chiếm hữu cho riêng minh, chúng rất dễ bị tước đoạt, chiếm dụng Việc bảo vệ các thành qua cua hoạt động sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong thời đại ngày nay, các hoạt động sở hữu công nghiệp da dạng phong phủ không chi còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mang tính toàn cầu. Việc Nhà nước quy định về sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng nhằm bao vệ quyền của những người hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt có ý chi họ và kinh tế quan trọng.

>> Xem thêm:  Quyền tác giả bao gồm những quyền gì ? Hướng dẫn cách đăng ký bản quyền

Quyền sở hữu công nghiệp (tiếng Anh là “Industrial property rights”) được hiểu theo hai nghĩa:

Hiểu theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu công nghiệp là pháp luật về sở hữu công nghiệp hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ và được pháp luật coi là các đối tượng sở hữu công nghiệp. Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, mặt khác, quyền sở hữu công nghiệp còn bao gồm các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Có thể phân chia một cách khái quát các quy phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ theo các nhóm sau:

Thứ nhất: Nhóm các quy định liên quan đến việc xác định tiêu chuẩn một kết qua sáng tạo là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, các loại đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ, tiêu chí để xác định nó;

Thứ hai: Nhóm các quy định liên quan đến thăm quyền, trình tự, thu tục xác lập kết qua sáng tạo được coi là đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ;

Thứ ba: Nhóm các quy định liên quan đến nội dung quyền của các chu thể đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp (bao gồm quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, tác giá, các chủ thể khác đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được xác lập);

Thứ tư: Các quy phạm liên quan đến dịch chuyển các đối tượng sở hữu công nghiệp;

Thứ năm: Các quy phạm liên quan đến bảo vệ quyền của các chủ thể đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.

Hiểu theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.

Với ý nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến việc sử dụng, chuyển dịch các đối tượng sở hữu công nghiệp. Các quyền chủ quan này phải phù hợp pháp luật nói chung và pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp nói riêng; bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, quyền ngăn chặn những hành vi xâm phạm hoặc cạnh tranh không lành mạnh đối với các quyền của những người sáng tạo ra hoặc người sử dụng hợp pháp các đối tượng đó. Quyến sở hữu công nghiệp còn được hiệu dưới góc độ là quan hệ pháp luật với đầy đủ các yếu tố hội tụ như chủ thể, khách thể, nội dung. Quyền Sở hữu công nghiệp chỉ được hinh thành trên cơ sở sự tác động của các quy phạm pháp luật về sở hữu công nghiệp đối với kết quả của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

4. Quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục đăng ký và bảo vệ bản quyền nhiếp ảnh

Khái niệm “Sở hữu công nghiệp” được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 1 Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, theo đó sở hữu công nghiệp được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Theo nghĩa rộng, " Sở hữu công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chi áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc, lá thuộc lá, hoa quả, gia súc, khoảng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột” (khoản 3 Điều 1 Công ước Paris 1883). Theo quy định này, đôi tượng của quyền Sở hữu công nghiệp có phạm vi rộng và đối luôn luôn phát triển cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ cũng như sự phát triển của các hoạt động kinh tế – thương mại.

Tại Việt Nam, quyền Sở hữu công nghiệp được hiểu là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiêu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dân nhãn hiểu tên thương mai chỉ dẫn địa lí, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chiểu cạnh tranh không lành mạnh”.

5. Quyền SHCN bị giới hạn bởi không gian và thời gian

+ Về không gian: Là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, quyền Sở hữu công nghiệp luôn mang tính chất lãnh thổ. Điều này có nghĩa là quyền Sở hữu công nghiệp phát sinh trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. So với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ tuyệt đối hơn. Bởi lẽ, quyền sở hữu công nghiệp được phát sinh trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ và văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực tại lãnh thổ của nước đã cấp văn bằng đó,

+ Về thời gian: Khác với tài sản hữu hình, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ trong thời hạn nhất định do pháp luật quy định (ví dụ, sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực là 20 năm kế từ ngày nộp đơn), hết thời hạn đó công chúng được tự do tiếp cận với các đối tượng sở hữu công nghiệp.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Dịch vụ đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả uy tín, chuyên nghiệp

Câu hỏi thường gặp về quyền tác giả có yếu tố nước ngoài ?

Câu hỏi: Các quyền sở hữu tác giả và quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài liên quan tới gì ?

Trả lời:

Liên quan tới các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học; việc trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát và truyền thanh, phát và truyền hình; các sáng chế thuộc mọi lĩnh vực sáng tạo của con người; các phát minh khoa học; các kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các thương hiệu và chỉ dẫn thương mại, bảo vệ chống cạnh tranh không lành mạnh và mọi quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghệ, khoa học, văn học, nghệ thuật.

Câu hỏi: Yếu tố nước ngoài trong quan hệ quyền tác giả được chia thành mấy trường hợp?

Trả lời:

- Chủ thể : có ít nhất một bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài.
- Khách thể tồn tại ở nước ngoài.
- Sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài công bố, đăng ký, phổ biến, cấp văn bằng bảo hộ... ( Tác giả là công dân Việt Nam đang cư trú tại nước ngoài cho công bố tác phẩm đầu tiên do mình sáng tác).

Câu hỏi: Các hình thức bảo hộ quyền tác giả là gì ?

Trả lời:

Có 3 hình thức bảo hộ: 
- Ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế đa phương
- Ký kết điều ước song phương 
- Bảo hộ quyền tác giả theo nguyên tắc có đi có lại.