1. Quyết định trái pháp luật là gì?

Theo nội dung cấu thành Điều 371 BLHS 2015, quyết định trái pháp luật là những quyết định tố tụng được ban hành trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động…, hành chính, hoặc những quyết định trong quá trình thi hành án trái với các quy định của pháp luật về nội dung; không đúng về trình tự, thủ tục ban hành; không phù hợp với những tình tiết thực tế của vụ việc hoặc yêu cầu giải quyết vụ án.

Ra quyết định trái pháp luật là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật.

Chẳng hạn, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không có căn cứ; quyết định chấp nhận thuận tình ly hôn nhưng không có sự đồng tình của bên vợ hoặc bên chồng…; quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự khi chỉ có sự đồng ý của một bên đương sự; quyết định thi hành án không đúng thẩm quyền hoặc không đúng với các quyết định của bản án được đem ra thi hành…

Trong hoạt động tố tụng, quyết định trái pháp luật cũng có thể là những quyết định có một phần nội dung trái pháp luật.

 

2. Khái niệm về tội ra quyết định trái pháp luật

Ra quyết định trái pháp luật là hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật. Trường hợp ra quyết định trái pháp luật nhưng cấu thành một trong các tội: Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 368), Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 369), Ra bản án trái pháp luật (Điều 370), Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 377) hoặc Tha trái pháp luật người người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù (Điều 378) thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội ra quyết định trái pháp luật mà áp dụng các tội tương ứng trên để xử lý.

So sánh Điều 371 BLHS 2015 với Điều 296 BLHS 1999, thấy điều luật mới quy định cụ thể hậu quả của tội phạm là gây thiệt hại về tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điều luật mới giữ nguyên mức hình phạt tại khoản 1, khoản 2 và khoản 4; tăng mức hình phạt tối thiểu và tối đa tại khoản 3 và quy định cụ thể các tình tiết định khung tăng nặng.

 

3. Quy định chung về tội ra quyết định trái pháp luật

Tội “Ra quyết định trái pháp luật" được quy định tại Điều 371 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

1. Người nào có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 368, 369, 370, 377 và 378 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

đ) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Dẫn đến người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự tự sát;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

 

4. Các yếu tố cấu thành tội phạm

4.1. Khách thể của tội phạm

– Khách thể của tội phạm, không chỉ xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm đến hoạt động bình thường của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và Cơ quan thi hành án, làm mất uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan thi hành án và gây thiệt hại về tài sản hoặc gây thiệt hại đến lợi ích.

Đối tượng tác động của tội phạm này là những quyết định trái pháp luật của những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự hoặc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc dân sự, kinh tế, hành chính; thi hành án hình sự, thi hành án dân sự.

Ví dụ: Quyết định thuận tình ly hôn nhưng trên thực tế không thụ lý, giải quyết việc ly hôn; Kê biên tài sản trái pháp luật, Hủy bỏ kê biên tài sản trái pháp luật…

 

4.2. Chủ thể của tội phạm

– Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, gồm những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó Chánh án Toà án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Chấp hành viên mới có thể thực hiện được tội phạm này. Ngoài ra, những chủ thể khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng có thể là chủ thể của tội phạm này, nếu có hành vi ra quyết định trái pháp luật, như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm… Những người không có chức danh pháp lý hoặc không có thẩm quyền ban hành quyết định tố tụng chỉ có thể phạm tội này nếu đồng phạm với những người có thẩm quyền.

 

4.3. Mặt khách quan của tội phạm

– Mặt khách quan của tội phạm là việc ban hành quyết định trái pháp luật thông thường bằng văn bản, dưới hình thức là quyết định, mà biết rõ là trái pháp luật và hành vi trái pháp luật đó phải gây hậu quả là thiệt hại về tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Hành vi ra quyết định trái pháp luật có thể bằng một quyết định trái pháp luật, nhưng có trường hợp lại thể hiện bằng nhiều hành vi trái pháp luật trước đó, như: Lập biên bản xác minh, biên bản họp khống… để ra quyết định trái pháp luật sau đó.

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này và hành vi trái pháp luật phải có mối quan hệ nhân quả với hậu quả. Nếu hành vi ra quyết định trái pháp luật chưa gây thiệt hại nêu trên thì chưa cấu thành tội phạm này, mà tuỳ trường hợp người có hành vi có thể chỉ bị xử lý hành chính hoặc tội khác.

Tổng kết thực hiện áp dụng pháp luật cho thấy, tính trái pháp luật được biểu hiện chủ yếu là trái pháp luật về nội dung của quyết định. Tuy nhiên, do quy định của điều luật bổ sung về hậu quả (vừa quy định hậu quả gây thiệt hại như trước đây còn bổ sung hậu quả thiệt hại về tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng) nên về cơ bản, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định có hậu quả thiệt hại về tài sản cụ thể như trên hoặc phải chứng minh thực tế có thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Ví dụ: Thẩm phán ra quyết định thuận tình ly hôn trái pháp luật, gây thiệt hại về quyền nhân thân cho cá nhân…

Việc ra quyết định trái pháp luật có thể được thực hiện khi vụ án, vụ việc đang trong quá trình giải quyết (quyết định tạm dừng, quyết định trả tài sản, vật chứng, kê biên tài sản, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…) nhưng cũng có trường hợp là quyết định chấm dứt tố tụng đối với vụ án, vụ việc đó (quyết định đình chỉ vụ án).

Lưu ý, hành vi ra quyết định trái pháp luật trên thực tế còn liên quan đến các hành vi vi phạm, tội phạm khác, cần được xem xét toàn diện và xử lý triệt để. Ví dụ: Thẩm phán A biết rõ tài sản của B bị kê biên để thi hành án, nhưng đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trái pháp luật. Lợi dụng việc này, B tẩu tán tài sản không thi hành án. Do đó, ngoài hành vi ra quyết định trái pháp luật của Thẩm phán A, còn có hành vi không chấp hành án của B cần được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

 

4.4. Mặt chủ quan của tội phạm

– Mặt chủ quan của tội phạm, là cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ việc ra quyết định của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là một trong những căn cứ để xác định người phạm tội có biết rõ quyết định của mình có trái pháp luật hay không.

Trên thực tế, người phạm tội ít khi thừa nhận là cố ý hoặc biết rõ là trái pháp luật nhưng vẫn ban hành quyết định trái pháp luật; để chứng minh được người phạm tội biết rõ là trái pháp luật, phải đánh giá toàn diện về trình độ, kinh nghiệm của người ra quyết định; tính chất, mức độ sai phạm. Thực tế cho thấy người có thẩm quyền biết rõ là trái pháp luật thường biểu hiện tính trái pháp luật rất rõ ràng và mức độ sai phạm rất nghiêm trọng nhưng vẫn ban hành quyết định.

Nếu việc ra quyết định trái pháp luật do trình độ nghiệp vụ hạn chế hoặc do thiếu trách nhiệm thì có thể bị xử lý hành chính, nếu gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

 

5. Quy định về khung hình phạt của tội ra quyết định trái pháp luật

Mức hình phạt đối với tội này được chia thành ba khung, cụ thể như sau:

- Khung một (khoản 1): Có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Được áp dụng trong các trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan và chủ quan.

- Khung hai (khoản 2): Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện từ 31% đến 60%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

- Khung ba (khoản 3): Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

+ Làm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

- Hình phạt bổ sung (khoản 4): Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.