1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015: Phần các tội phạm - Chương 24 (Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp)" do ThS. Đinh Văn Quế biên soạn.
Thạc sỹ, Luật sư Đinh Văn Quế nguyên thành viên Hội đồng thẩm phán, Chánh tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao, tác giả của hơn 50 tác phẩm bình luận chuyên sâu về luật hình sự và luật tố tụng hình sự; đặc biệt là bộ sách 12 cuốn bình luận về Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015: Phần các tội phạm - Chương 24 (Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp)
Tác giả: ThS. Đinh Văn Quế
Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
3. Tổng quan nội dung sách
Trong những năm qua, nhất là sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành nhiều nghị quyết về hoạt động tư pháp nói chung, cho thấy hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng chuyển biến rõ rệt, số vụ án oan, sai giảm. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án cơ bản tuân thủ đúng quy định của pháp luật, chất lượng ngày càng được nâng cao, hạn chế oan sai, tạo chuyển biến tích cực theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về thực hiện quyền tư pháp; tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đại bộ phận cán bộ làm công tác tư pháp tận tụy với công việc, có tinh thần trách nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, công tác tư pháp vẫn còn một số hạn chế như: việc chấp hành pháp luật trong khởi tố, điều tra tội phạm có trường hợp chưa nghiêm; tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa đạt chỉ tiêu; vẫn để xảy ra trường hợp oan, bỏ lọt tội phạm; công tác quản lý, giáo dục phạm nhân, quản lý người bị tạm giữ, tạm giam có mặt còn hạn chế; số người bị kết án phạt tù trốn ngoài xã hội, phạm nhân trốn khỏi nơi giam giữ hoặc phạm tội mới không giảm; công tác thi hành án hình sự tại cộng đồng chưa đáp ứng yêu cầu, chưa bảo đảm tính giáo dục, răn đe; năng lực, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ tư pháp chưa cao, một số trường hợp sa sút phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật, phải xử lý hình sự.
Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp không chỉ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án, mà còn xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, vì các quyền này được Nhà nước bảo vệ thông qua các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, đối với từng tội phạm người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của cơ quan chức năng hoặc của công dân và người phạm tội thông qua đó mà xâm phạm đến hoạt động tư pháp. Ví dụ: Hành vi dùng nhục hình, người phan xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người nhưng thông qua đó mà người phạm tội đã xâm phạm đến hoạt động tư pháp.
Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp cũng rất đa dạng, do đó đặc điểm về chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp không chỉ do những người tiến hành tố tụng thực hiện, mà tình trạng vi phạm pháp luật của công dân xâm phạm đến hoạt động tư pháp cũng diễn biến phức tạp công tác thi hành án còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các vụ án hành chính. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là những người tiến hành tố tụng thực tiễn xét xử không nhiều. Không phải các tội phạm này không xảy ra trong thực tế mà là do việc điều tra chứng minh rất khó khăn. Có lẽ đây là một đặc điểm nổi bật nhất đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể lại chính là những người trong các cơ quan tư pháp, có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp.
Cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp là một vấn đề đang được các nhà khoa học pháp lý, các luật gia nghiên cứu và cũng là vấn đề Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong công cuộc cải cách tư pháp. Cùng với đó các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng có nhiều điểm mới so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy, việc hiểu và áp dụng các quy định đối với các tội phạm này trong việc đấu tranh và phòng ngừa là rất quan trọng.
Tiếp theo các cuốn “Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015...”, tác giả Định Văn Quế - Thạc sỹ Luật học, nguyên Thành viên Hội đồng Thẩm phán, Chánh Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn "Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phần thứ hai - Các tội Phạm Chương XXIV: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”.
Tác giả biên soạn với cấu trúc gồm hai phần chính:
Phần thứ nhất: Đặc điểm của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Phần thứ hai. Các tội phạm cụ thể
Cũng giống như các cuốn Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015 khác, ở phần "Các tội phạm cụ thể" tác giả trình bày với cấu trúc từng tội phạm theo mỗi điều luật, ở mỗi Điều luật tác giả chia thành 2 mục:
A. Các dấu hiệu cơ bản của tội phạm
B. Các trường hợp phạm tội cụ thể
4. Đánh giá bạn đọc
Dựa vào các quy định tại Chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 2015, so sánh với Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp; đối chiếu với thực tiễn, tác giả đã giải thích một cách khoa học về các dấu hiệu cấu thành các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, đồng thời nêu ra một số vấn đề vướng mắc trong thực tiễn áp dụng cần tiếp tục hoàn thiện giúp bạn đọc hiểu và tiếp cận đa chiều các vấn đề lý luận và thực tiễn về nhóm tội phạm này.
Cuốn sách được bạn đọc phản hồi đánh giá tích cực, là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc, đặc biệt phục vụ hiệu quả cho sinh viên chuyên ngành luật, giảng viên trong học tập và giảng dạy, là tài liệu tham khảo cần thiết đối với những người làm công tác thực tiễn về hình sự, tố tụng hình sự.
5. Kết luận
Các cuốn sách của Thạc sỹ, Luật sư Đinh Văn Quế thực sự không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý đối với bạn đọc mà còn có giá trị thực tiễn đa chiều. Nội dung tác giả chia sẻ luôn mạch lạc, khoa học và logic giữa lí luận và thực tiễn. Cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015: Phần các tội phạm - Chương 24 (Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp)" thực sự là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc, đặc biệt đối tượng là sinh viên, giảng viên và những người làm công tác trong các cơ quan nhà nước, luật sư tư vấn trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự.
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015: Phần các tội phạm - Chương 24 (Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp)".
Dưới đây là trích đoạn nội dung tác giả đánh giá quy định tại Điều 368 Bộ luật hình sự 2015 về Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội để bạn đọc tham khảo:
Điều 368. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội
1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Đối với 02 người đến 05 người;
c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
đ) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Đối với 06 người trở lên;
b) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Làm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan tự sát.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Định nghĩa: Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã khởi tố, kết luận điều tra, quyết định truy tố đối với người mà mình biết rõ là không có tội.
Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội thực chất là làm one người vô tội. Nhưng không phải trường hợp làm oan người vô tội nào cũng là hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, vì nếu hiểu truy cứu trách nhiệm hình sự bao gồm cả khởi tố, truy tố và xét xử thì kết án oan người mà mình biết rõ là không có tội cũng là hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, những hành vi kết án người không có tội được quy định thành tội danh riêng (Tội ra bản án trái pháp luật), nên thuật ngữ Truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 368 chỉ còn hành vi Khởi tố, kết luận điều tra và truy tố.
Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là tội phạm đã được quy định tại Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999.So với Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội phạm này, thì Điều 368 Bộ luật hình sự năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung như sau:Tuy vẫn cấu tạo thành 4 khoản và hình phạt tối đa là 15 năm nhưng ở mỗi khoản đều có sửa đổi, bổ sung, nhất là các tình tiết và dấu hiệu định khung ở khoản 2, khoản 3 của điều luật.Nếu khoản 2 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định 2 tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt, đó là: truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng; gây hậu quả nghiêm trọng, thì khoản 2 Điều 368 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 6 tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt, đó là: Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; đối với từ 02 người đến 05 người; đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60 %; dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.Về hình phạt, tuy khoản 1 của điều luật vẫn quy định từ 01 năm đến 05 năm, những khoản 2 quy định từ 05 năm đến 10 năm và khoản 3 là từ 10 năm đến 15 năm, nặng hơn khoản 2 và khoản 3 của Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999, mặc dù mức phạt tối đa khoản 2 của điều luật vẫn là 10 năm nhưng mức tối thiểu là 05 năm thay vì 03 năm như khoản 2 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 và mức tối thiểu ở khoản 3 của điều luật là 10 năm thay vì 07 năm như khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999.Việc nhà làm luật quy định mức hình phạt đối với tội phạm này nặng hơn so với trước đây là nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong tình hình hiện nay.........