1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Kiểm soát xung đột lợi ích nhóm trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt nam hiện nay" được biên soạn bởi TS. Phạm Thị Huệ.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Kiểm soát xung đột lợi ích nhóm trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt nam hiện nay (TS. Phạm Thị Huệ)

Sách Kiểm soát xung đột lợi ích nhóm trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt nam hiện nay

Tác giả: TS. Phạm Thị Huệ

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

 

3. Tổng quan nội dung sách

Thời gian qua, hiện tượng “giàu lên bất thường” của một số cán bộ, công chức hay việc “cả họ làm quan” xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam và trở thành vấn đề được xã hội ngày càng quan tâm. Một số phương tiện truyền thông và chuyên gia gọi đó là hiện tượng “xung đột lợi ích” hay có bản chất của “xung đột lợi ích” trong thực thi công vụ. Vậy “xung đột lợi ích” là gì và có tác động như thế nào đến hoạt động công vụ để cần phải kiểm soát?

Xung đột lợi ích là khái niệm được nhắc đến nhiều trên thế giới và kiểm soát xung đột lợi ích được coi là một công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng được các quốc gia coi trọng. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, pháp luật hiện hành mới chỉ đưa ra khái niệm chung về xung đột lợi ích cũng như kiểm soát xung đột lợi ích và bước đầu ghi nhận, đưa ra các biện pháp giải quyết các tình huống xung đột lợi ích cụ thể, liên quan đến việc tặng quà và nhận quà tặng; có hành vi hoặc ra quyết định (hoặc gây ảnh hưởng) có lợi cho cá nhân hoặc người thân của người thực hiện hành vi, ra quyết định; đầu tư và chia sẻ lợi ích với doanh nghiệp và sử dụng lợi thế thông tin có được từ vị trí công tác. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 và hiện nay là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã có một số quy định để phòng ngừa, kiểm soát những tình huốhg “xung đột lợi ích” nhằm phòng ngừa tham nhũng, mặc dù không sử dụng thuật ngữ “xung đột lợi ích” (Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) hoặc đã có khái niệm về xung đột lợi ích song chưa có chế định riêng về kiểm soát xung đột lợi ích. Hoạt động kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ trên thực tế cũng chưa được quan tâm thực hiện.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mục tiêu của các giải pháp kiểm soát xung đột lợi ích là nhằm phòng, chống tham nhũng, đảm bảo tính liêm chính đề cao trách nhiệm giải trình, minh bạch trong hoạt động công vụ với sự tham gia đông đảo của xã hội trong hoạch định và thực thi chính sách, vì mục tiêu xây dựng và phát triển của bộ máy hành chính phục vụ, một đội ngũ công chức chuyên nghiệp, tính chịu trách nhiệm cao, một môi trường công vụ minh bạch, liêm chính, ở khía cạnh này, theo đánh giá mới nhất trong nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam thì “Việt Nam chưa có một hệ thông đảm bảo trách nhiệm giải trình đủ mạnh để dựa vào đó nâng cao hơn nữa hiệu quả của Nhà nước”.

Từ những phân tích trên có thể nhận thấy, vấn đề kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ nhằm phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quyền hành pháp và tạo cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước liêm chính, trong sạch.

Cuốn sách "Kiểm soát xung đột lợi ích nhóm trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt nam hiện nay" được tác giả biên soạn từ chính luận án tiến sĩ của mình.

Nội dung cuốn sách gồm ba chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

I. Nhận diện xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

II. Kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

III. Kinh nghiệm quốc tế và kinh nghiệp từ pháp luật phong kiến Việt Nam về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

Chương II: Thực trạng xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ tại Việt Nam thời gian qua

I. Thực trạng xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

II. Thực trạng kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

Chương III: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích.

I. Định hướng kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

II. Một số giải pháp

 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn trong công tác xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới.

Đây thực sự là tài liệu tham khảo cho thực tiễn hoạt động thực thi công vụ hiện nay ở Việt Nam, phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy môn học liên quan đến khoa học chính trị, ngành xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, ngành quản lý công, quản lý nhà nước. Đồng thời là tài liệu phục vụ công tác phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.

 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Kiểm soát xung đột lợi ích nhóm trong hoạt động công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt nam hiện nay".

Câu hỏi 1: Xung đột lợi ích là gì?

Theo giải thích tại khoản 8 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018: Xung đột lợi ích là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Câu hỏi 2: Trường hợp nào được xác định là có xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ?

Căn cứ quy định tại Điều 29 Nghị định 59/2019/NĐ-CP, Người có chức vụ, quyền hạn được xác định là có xung đột lợi ích khi có dấu hiệu rõ ràng cho rằng người đó thuộc hoặc sẽ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;

2. Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;

3. Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;

4. Sử dụng những thông tin có được nhờ chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác;

5. Bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu;

6. Góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do mình trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước;

7. Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột hoặc để doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình khi được giao thực hiện các giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó;

8. Có vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là người có quyền, lợi ích trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình;

9. Can thiệp hoặc tác động không đúng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền vì vụ lợi.

Câu hỏi 3: Pháp luật quy định như thế nào về giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích?

Theo quy định tại Điều 32 Nghị định 59/2019/NĐ-CP việc giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích được quy định như sau:

- Việc quyết định giám sát thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có xung đột lợi ích được thực hiện khi có căn cứ cho rằng người đó không bảo đảm tính đúng đắn, khách quan, trung thực trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà chưa cần thiết phải áp dụng biện pháp đình chỉ, tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyên người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác.

- Người trực tiếp quản lý, sử dụng người có xung đột lợi ích căn cứ vào phạm vi, quy mô, tính chất và nội dung của nhiệm vụ, công vụ, quyết định tự giám sát hoặc giao cho công chức thuộc thẩm quyền quản lý của mình thực hiện việc giám sát.

Nội dung giám sát bao gồm:

a) Việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao có xung đột lợi ích bao gồm tiến độ và kết quả đã đạt được;

b) Khó khăn, vướng mắc phát sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

c) Các nội dung khác có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có xung đột lợi ích.

Người được giao giám sát có trách nhiệm sau đây:

a) Yêu cầu người có xung đột lợi ích thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, giải trình và cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát;

b) Làm việc trực tiếp với người có xung đột lợi ích khi xét thấy cần thiết nhằm phục vụ cho mục đích giám sát;

c) Báo cáo trực tiếp hoặc bằng văn bản với người giao giám sát về khó khăn, vướng mắc hoặc hành vi vi phạm pháp luật của người có xung đột lợi ích để có các biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời;

d) Báo cáo với người giao giám sát khi có căn cứ cho rằng việc giám sát không phù hợp với xung đột lợi ích hoặc khi xung đột lợi ích không còn.