1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng" do PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện và TS. Đoàn Thị Phương Diệp biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện và TS. Đoàn Thị Phương Diệp biên soạn
Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
3. Tổng quan nội dung sách
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một loại quan hệ tương đối phức tạp vì nó là sự đan xen bởi nhiều yếu tố như tài sản, nhân thân và liên quan đến nhiều chủ thể.
Nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực này, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Điện và TS. Đoàn Thị Phương Diệp biên soạn cuốn sách “Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng”. Cuốn sách nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về quan hệ tài sản giữa vợ chồng qua các thời kỳ; giới thiệu các hệ thống pháp lý và mô hình đáng chú ý của một số nước trên thế giới; đặc biệt tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng.
Cuốn sách được biên soạn với 3 phần nội dung chính như sau:
Phần 1: Khái quát chung về sự hình thành và phát triển của pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng qua các thời kỳ
Phần 2: Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong Luật so sánh
Phần 3: Quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong Luật Việt Nam hiện hành
Pháp luật Việt Nam hiện hành về quan hệ tài sản giữa vợ chồng được chia thành 2 chế độ: chế độ tài sản luật định và chế độ tài sản thỏa thuận.
Chế độ tài sản luật định: Bao gồm 2 nhóm: Nhóm thứ nhất là chế độ tài sản sơ cấp, tập hợp những quy tắc mang tính mệnh lệnh, bắt buộc áp dụng trong mọi trường hợp; nhóm thứ hai là chế độ luật định, tập hợp các tùy nghi, chỉ được áp dụng trong trường hợp vợ, chồng không có thỏa thuận. Chế độ tài sản áp dụng trong trường hợp không có thỏa thuận gồm 3 khối tài sản: khối tài sản chung của vợ và chồng và hai khối tài sản riêng thuộc về từng người, mỗi khối tài sản gồm 2 thành phần tài sản có và tài sản nợ. Các tác giả làm rõ quy định của pháp luật trong việc quản lý các khối tài sản và thanh toán quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Theo đó, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được thanh toán theo nguyên tắc áp dụng lý thuyết công sức đóng góp, khối tài sản được phân chia gồm tài sản có và tài sản nợ.
Phân tích các quy định của chế độ luật định, các tác giả nêu một số điểm mới cũng như hạn chế của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như: Khối tài sản có chung của vợ chồng bao gồm cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, điểm này trong Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định không rõ gây nhiều tranh cãi trong giới thực hành luật; lý thuyết về công sức đóng góp chỉ mới dừng lại ở các quy tắc mang tính nguyên tắc, còn nhiều chi tiết chưa được đề cập, quan tâm.
Chế độ tài sản thỏa thuận: Quy định mới về chế độ tài sản của vợ chồng được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, với chế định này sẽ giúp các cặp vợ chồng có thêm sự lựa chọn trong quan hệ về tài sản. Các tác giả phân tích bảy nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng chế độ tài sản thỏa thuận và quy định của pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nghị định 126/2014/NĐ-CP gồm những vấn đề cơ bản: Xác lập chế độ tài sản thỏa thuận; sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản giữa vợ chồng; nội dung của chế độ tài sản thỏa thuận theo quy định hiện hành; tuyên bố vô hiệu chế độ tài sản thỏa thuận; chấm dứt chế độ tài sản thỏa thuận.
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của các nước phát triển như Bỉ, Pháp,… và phân tích, đánh giá dữ kiện pháp lý thực tại ở nước ta, nhóm tác giả đưa ra một số kiến giải và đề xuất nhằm góp phần giải thích các quy định hiện hành, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác áp dụng pháp luật cũng như dự báo cho những hướng dẫn áp dụng luật sẽ có trong tương lai.
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn sách đã trình bày nội dung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về quan hệ tài sản giữa vợ chồng qua các thời kỳ; giới thiệu các hệ thống pháp lý và mô hình đáng chú ý của một số nước trên thế giới; đặc biệt tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cung cấp cho bạn đọc một bức tranh khá toàn diện về chế định pháp lý này.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với người học, người nghiên cứu, người hành nghề tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như bạn đọc quan tâm tới lĩnh vực pháp luật này nói chung.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng".
Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây một số quy định về thỏa thuận xã lập chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân, gia đình 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành để bạn đọc tham khảo:
Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng
Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:
a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
d) Nội dung khác có liên quan.
2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.
Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu
1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;
b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;
c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.
Điều 6. Xác định thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu
1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần.
a) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
b) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
2. Tòa án quyết định tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu khi thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình và lưu ý một số trường hợp sau đây:
a) Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng quy định tại Điều 31 và điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.
b) Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định.
Ví dụ 1: Ông A đang có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Sau đó ông A kết hôn với bà C và thỏa thuận chuyển giao toàn bộ tài sản của mình cho bà C, do đó, không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Trong trường hợp này thỏa thuận về tài sản giữa ông A và bà C bị vô hiệu.
Ví dụ 2: Anh A có con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Sau đó, anh A kết hôn với chị B. Anh A và chị B đã thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó có nội dung toàn bộ tài sản của anh A sẽ do chị B thừa hưởng khi anh A chết. Trong trường hợp này, nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản giữa anh A và chị B bị vô hiệu đối với phần tài sản của anh A mà người con bị mất năng lực hành vi dân sự được thừa kế theo quy định của pháp luật.