1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX" được biên soạn bởi TS. Phạm Thị Loan.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX

Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX

Tác giả: TS. Phạm Thị Loan

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Nho giáo - một học thuyết triết học, chính trị - đạo đức khởi nguồn từ Trung Quốc, đã có mặt ở Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Từ lúc ban đầu bị phần lớn người dân Việt từ chối khi mới du nhập, sau thời Bắc thuộc, Nho giáo đã dần được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp nhận  và sử dụng làm hệ tư tưởng, công cụ để trị nước, đào tạo ra những con người phục vụ cho mục đích cai trị của chế độ phong kiến. Trong nhiều thế kỷ được nhà nước phong kiến Việt Nam đề cao, Nho giáo được xem như một mô hình tổ chức và quản lý xã hội chính thống, một phương thức hoạt động và phát triển văn hóa đóng vai trò chủ đạo. Một mặt, các nguyên tắc chính trị - đạo đức của Nho giáo đã được vận dụng để xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, hùng mạnh (các triều đại Lý - Trần - Lê - Nguyễn), góp phần gìn giữ và làm giàu di sản văn hóa nước nhà, nhưng mặt khác nó cũng phần nào kìm hãm sự phát triển của tư tưởng học thuật và tiến trình lịch sử nước ta. Ở Việt Nam, Nho giáo có lúc thịnh lúc suy, có lúc được coi là đỉnh cao của hệ tư tưởng thống trị, nhưng cũng có lúc bị phê phán nặng nề, bị coi là nguồn gốc của tư tưởng bảo thủ lạc hậu. Và theo thời gian, Nho giáo đã trở thành một trong những thành tố của truyền thống văn hóa Việt Nam, chi phối mạnh mẽ đến tư duy và thái độ ứng xử của người Việt. Giáo sư Phan Ngọc từng đánh giá: “Không có một dấu vết nào của văn hóa Việt Nam mà không mang một biểu hiện có thể xem là có tính chất Nho giáo, dù    đó là văn học, chính trị, phong tục, nghi lễ, nghệ thuật, tín ngưỡng. Cũng không có một người Việt Nam nào, dù chống Nho giáo đến đâu mà lại không chịu ảnh hưởng của Nho giáo”.

Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Đây vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với vấn đề bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc trong bối cảnh mới. Trong xu hướng tất yếu của sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa, việc khẳng định và phát huy những yếu tố văn hóa bền vững, lâu dài làm nền tảng tinh thần cho sự tồn tại và phát triển của cả một dân tộc là hết sức thiết yếu. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định chủ trương xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa “phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ”2 với mục tiêu “làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Nền văn hóa ấy tất yếu phải kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc mà trong đó sự đóng góp không nhỏ của Nho giáo. Do vậy, việc nghiên cứu về Nho giáo nói chung, quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam nói riêng, giúp chúng ta nhận thức rõ hơn đặc điểm, vị trí, vai trò và những ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam, trên cơ sở đó có thái độ khách quan trong việc tiếp thu di sản của quá khứ, góp phần tạo ra nội lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Những nghiên cứu trong cuốn sách này còn nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm về sự tiếp thu, vận dụng của dân tộc ta đối với các yếu tố văn hóa, tư tưởng du nhập từ bên ngoài vừa để tránh bị đồng hóa văn hóa vừa để làm giàu thêm nền văn hóa của riêng mình, đặc biệt là trong bối cảnh hiện tại, khi mà một quốc gia nào dù có thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng” cũng không thể ngăn nổi sự thẩm thấu của dòng chảy toàn cầu hóa văn hóa - một dòng chảy lớn cuốn hút mọi nền văn hóa cùng hội nhập.

Nhằm đáp ứng nhu cầu về tài liệu tham khảo cho những sinh viên, học viên chuyên ngành Triết học, những người quan tâm đến lĩnh vực lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách "Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX" do TS. Phạm Thị Loan biên soạn.

Cuốn sách tập trung hệ thống hóa các giai đoạn và tư tưởng của Nho giáo khi du nhập vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX, rút ra những đặc điểm mang tính quy luật của quá trình đó, giúp người đọc thấy được sự thay đổi của Nho giáo dưới sự tác động của quá trình “bản địa hóa”. Trên cơ sở đó nêu bật một số ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm đối với việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại nói chung, góp phần vừa làm giàu văn hóa truyền thống dân tộc, vừa giữ gìn bản sắc vốn có và tránh nguy cơ bị đồng hóa trong bối cảnh giao lưu văn hóa đang ngày càng rộng mở của xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

4. Đánh giá bạn đọc

Qua cuốn sách người đọc có thể nhận thức rõ hơn về vấn đề tiếp thu và biến đổi Nho giáo của người Việt trong lịch sử, từ đó làm cơ sở cho những nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam nói riêng, về tư tưởng, văn hóa Việt Nam nói chung, đặc biệt là khi văn hóa trở thành mục tiêu, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX".

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây nội dung tác giả trình bày trong cuốn sách về "Quá trình hình thành phát triển của Nho giáo" để bạn đọc tham khảo:

Nho giáo (儒教) được hiểu như một hệ thống giáo lý của các nhà nho nhằm mục đích tổ chức xã hội một cách hiệu quả. Những tư tưởng ban đầu của Nho giáo được hình thành từ trước thời Xuân Thu. Nhà nho khi đó được gọi là “sỹ”, là người chuyên học văn chương và lục nghệ, góp phần trị vì đất nước. Đến thời Khổng Tử, những tư tưởng đó được hệ thống lại thành một học thuyết chính trị - đạo đức, gọi là Nho giáo.

Nho giáo được hình thành, phát triển qua ba giai đoạn cơ bản: Nho giáo thời kỳ Tiên Tần, Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán, Nho giáo thời kỳ Tống - Minh - Thanh.

Nho giáo thời kỳ Tiên Tần còn gọi là Nho giáo nguyên thủy hay Nho giáo Khổng - Mạnh, do Khổng Tử khởi xướng và sau này được phát triển bởi học trò của ông là Mạnh Tử. Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình, nước Lỗ (nay thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc sa sút vào thời đại mà các mâu thuẫn xã hội đang trở nên gay gắt; nền pháp chế, ý thức truyền thống của nhà Chu bắt đầu bị lung lay nhưng vẫn còn giữ địa vị chính thống. Từ khi còn trẻ, Khổng Tử đã dốc lòng vào việc học và cũng từng được mời ra làm quan trong một thời gian ngắn, nhưng vì thấy chính quyền nước Lỗ suy thoái nên ông đã bỏ đi chu du thuyết khách để thực hiện rộng rãi chủ trương nhân trị, khôi phục chế độ tông pháp nhà Chu đã suy vong, mong được vua quan các nước này thực hiện đường lối chính trị của mình. Nhưng sau nhiều năm truyền bá học thuyết của mình, ông vẫn không được trọng dụng. Vì thế, trong quãng đời còn lại, ông trở về nước Lỗ chuyên tâm dạy học trò, san định sách Thi, Thư, hiệu đính Lễ, Nhạc, giải thích sách Dịch đời trước, biên soạn sách Xuân Thu. Các sách này đến đời Tống đã được hệ thống hóa lại và được xem như là kinh điển của Nho giáo, gọi là Lục kinh, nhưng vì Kinh Nhạc bị thất lạc, chỉ còn một ít được chép vào Kinh Lễ thành một thiên gọi là Nhạc , cho nên Lục kinh chỉ còn là Ngũ kinh. Các học trò của Khổng Tử, trong đó nổi bật là Mạnh Tử (Mạnh Kha, 372 - 289 TCN) đã phát triển học thuyết của thầy theo chiều hướng duy tâm, và Tuân Tử (Tuân Huống, 315 - 238 TCN) phát triển học thuyết theo chiều hướng duy vật. Tư tưởng Mạnh Tử được các học trò tập hợp, biên soạn lại tạo thành bộ sách Mạnh Tử nổi tiếng, sau này được xếp vào hàng Tứ thư của Nho giáo, trở thành kinh điển có tính chất bắt buộc của xã hội và các trí thức thời kỳ phong kiến, được các học phái Nho gia đời sau kế thừa và phát triển mạnh mẽ.

Đến thời Hán, Nho giáo Khổng - Mạnh được Đổng Trọng Thư (179 - 104 TCN) phát triển theo hướng duy tâm thần bí và tăng thêm tính chất đẳng cấp nghiệt ngã hình thành cái gọi là Hán Nho. Thời kỳ này, một số nhà nho đã bỏ công biên soạn bộ sách Lễ ký một cách công phu, trong đó tập hợp các bản văn luận về “lễ” của các Nho gia từ thời Tiên Tần đến đầu đời Hán với 49 thiên, bao gồm cả thiên Đại học Trung dung, mà về sau đến thời nhà Tống được tách ra thành sách và xếp vào hàng Tứ thư.

Thời nhà Tống - Minh, Nho giáo được phục hưng và có những bước phát triển căn bản. Nho giáo đời Tống là Nho giáo đã pha trộn nhiều bộ phận của tư tưởng Phật giáo với học thuyết Lão - Trang, Âm dương, dựa vào Kinh Dịch làm xương sống triết học để trở thành một hệ thống hoàn chỉnh. Ở thời kỳ này, Đại học, Trung dung được Chu Hy (1130 - 1200) tách ra khỏi Lễ ký và cùng với Luận ngữ, Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ thư, được coi như là sách gối đầu giường của các nhà nho. Nếu ở thời nhà Hán, Nho giáo chỉ chú trọng giải thích ý nghĩa các câu chữ trong kinh điển của Nho giáo Tiên Tần thì đến thời kỳ Tống - Minh, Nho giáo đã có một bước phát triển mới, cả về bản thể luận, nhận thức luận và luân lý - đạo đức, chính trị - xã hội... với nhiều học phái mới. Phái Lý học với khuynh hướng duy tâm khách quan do Thiệu Ung (1011 - 1077), Chu Đôn Di (1017 - 1073), Trương Tái (1020 - 1077) khởi xướng, hai anh em Trình Hạo (1032 - 1085) và Trình Di (1033 - 1107) phát triển, cuối cùng, Chu Hy đưa nó đến đỉnh cao. Phái Tâm học do Lục Cửu Uyên (1139 - 1192), thời Nam Tống, và Vương Thủ Nhân (1472 - 1528) thời nhà Minh đã phát triển theo hướng duy tâm chủ quan, coi “tâm” là khái niệm cơ bản. Đến thời nhà Thanh, Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Võ... đã đề xướng trào lưu Thực học, cố gắng đổi mới Nho học theo hướng hiệu quả, thiết thực hơn. Vào đầu thế kỷ XX, triều Mãn Thanh - triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc đã bị sụp đổ bởi cuộc cách mạng Tân Hợi (1911). Vị trí chính thống kéo dài gần 2000 năm của Nho giáo trong đời sống chính trị - xã hội Trung Quốc cũng theo đó mà kết thúc. Tuy vậy, sự ảnh hưởng của Nho giáo không vì thế mà mất đi, ngược lại, nó có ảnh hưởng hết sức sâu sắc, không chỉ đối với Trung Quốc mà còn với một số nước khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam.