1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam - Giá trị lý luận và thực tiễn" do tác giả Trịnh Quốc Việt biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam - Giá trị lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trịnh Quốc Việt biên soạn
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật
3. Tổng quan nội dung sách
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9-11-1946, tính đến nay vừa tròn 60 năm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhất là của các luật gia trong và ngoài nước bàn về ý nghĩa, giá trị của Hiến pháp 1946 và sự kế thừa những tư tưởng, nội dung cơ bản, quan trọng của bản Hiến pháp này trong các bản hiến pháp 1959, 1980 và 1992. Điểm nổi bật của Hiến pháp 1946 được thể hiện ở các giá trị lịch sử, chính trị, pháp lý có tính nhân văn cao cả. Đó là những giá trị lớn, bền vững nhất được tiếp thu và kế thừa xuyên suốt trong các bản hiến pháp tiếp theo của đất nước. Bản hiến pháp đó có giá trị lịch sử và chính trị và pháp lý đối với Việt Nam:
Thứ nhất, Hiến pháp 1946 thể hiện tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh
Thứ hai, Hiến pháp 1946 xác lập quyền độc lập, tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam
Thứ ba, Hiến pháp 1946 khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam
Thứ tư, Hiến pháp 1946 - nền tảng của nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Thứ năm, Hiến pháp 1946 đã đặt ra những nguyên tắc cho việc tổ chức bộ máy nhà nước
Thứ sáu, Hiến pháp 1946 ghi nhận và đảm bảo các quyền con người.
Có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp là một nôi dụng quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm việc xây dựng và ban hành Hiến pháp.
Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam: giá trị lý luận và thực tiễn của tác giả Trịnh Quốc Việt gồm 3 chương, trình bày một số khái niệm và cơ sở hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hiến pháp ở Việt Nam; những quan điểm cơ bản và giá trị lý luận, giá trị thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hiến pháp ở Việt Nam.
Chương I: Một số khái niệm và cơ sở hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam;
Chương II: Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam;
Chương III: Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam.
4. Đánh giá bạn đọc
Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về Nhà nước và pháp luật là tài sản tinh thần quý báu được gìn giữ, bảo vệ và phát huy trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật là một trong những nội dung cốt yếu của tư tưởng chính trị, đường lối chính trị của Người, gắn liền chính thể với xây dựng bộ máy chính quyền nhà nước, với xây dựng hệ thống pháp luật để quản lý nhà nước và xã hội, với đào tạo đội ngũ công chức chuyên nghiệp có kỷ luật công vụ nghiêm minh, đạo đức công chức tận tụy, trách nhiệm phục vụ nhân dân, trong sạch, liêm khiết, giữ được tín tâm trong lòng dân.
Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam: giá trị lý luận và thực tiễn là một tài liệu tham khảo bổ ích nhằm đáp ứng như cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, nhất là tư tưởng của Người về xây dựng Hiến pháp.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam: giá trị lý luận và thực tiễn".
Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây giá trị "thể hiện tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh" trong bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước ta để bạn đọc tham khảo:
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến với chính thể quân chủ chuyên chế nên không có Hiến pháp. Đến những năm đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp năm 1789 được du nhập vào Việt Nam, ảnh hưởng của cách mạng Trung Hoa năm 1911 và chính sách Duy tân mà Minh Trị Thiên hoàng đã áp dụng tại Nhật Bản, tư tưởng lập hiến đã bắt đầu xuất hiện trong giới trí thức, sĩ phu yêu nước tiến bộ của Việt Nam mà điển hình là tư tưởng của các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng.
Cụ Phan Bội Châu được đánh giá là người đầu tiên đã khởi thảo ra Hiến pháp Việt Nam nhưng không thành. Tư tưởng của cụ nhấn mạnh đến chủ quyền độc lập và chủ quyền quốc gia, nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân. Chế độ chính trị mà cụ lựa chọn có sự thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn, trong đó giai đoạn đầu là quân chủ lập hiến rồi đến cộng hòa dân chủ tư sản, cuối đời cụ lại tiếp cận với tư tưởng Cách mạng tháng Mười Nga.
Là người khởi xướng phong trào Duy tân, cụ Phan Châu Trinh cũng có tư tưởng xây dựng Hiến pháp ở nước ta từ rất sớm. Cụ cho rằng Việt Nam cần phải sớm có một bản Hiến pháp vì Hiến pháp là một công cụ pháp lý quan trọng để hạn chế quân quyền độc tôn và lạm quyền của chế độ quân chủ chuyên chế. Hiến pháp sẽ là một văn bản chính thức ghi nhận quyền làm chủ của người dân. Theo đó, nhân dân là người có quyền trong việc quyết định thể chế chính trị, luật pháp và con đường phát triển của dân tộc như thực tế ở nhiều nước phương Tây áp dụng vào thời điểm đó. Về mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực nhà nước, cụ cho rằng, mô hình lý tưởng để tổ chức bộ máy nhà nước là phải thiết kế để ba quyền độc lập với nhau. Mô hình cụ thể mà cụ đề cập chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi mô hình chế độ cộng hòa lưỡng tính mà nước Pháp đang vận dụng trên thực tế vào thời điểm đó.
Cũng như cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Châu Trinh, cụ Huỳnh Thúc Kháng đề cao vai trò của Hiến pháp. Cụ cho rằng, sở dĩ cần đến Hiến pháp là vì muốn cho đất nước được thanh bình, có nền chính trị bền vững, lâu dài thì cần có một cơ chế chính trị hợp với lòng dân, trong đó nhà nước phải phân định một cách rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước để dễ dàng quản lý và điều hành đất nước cũng như để người dân có thể chủ động trong hành xử và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Những tư tưởng về lập hiến của các cụ là khá tiến bộ, nhưng do những điều kiện khách quan và chủ quan lúc bấy giờ mà các tư tưởng trên đã không được hiện thực hóa. Mặc dù vậy, những tư tưởng ấy đã làm dấy lên phong trào đấu tranh đòi tự do, bình đẳng và giải phóng nhân dân lao động ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX.
Trong bối cảnh đó, có thể khẳng định rằng, tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng một chế độ mới, trong đó đề cao vai trò làm chủ của nhân dân mà Người đã nêu trong quá trình tìm đường cứu nước là cơ sở để hình thành nền lập hiến của nước Việt Nam mới.
Các tác phẩm Yêu sách của nhân dân An Nam và sau đó là Việt Nam yêu cầu ca đã thể hiện phần nào những tư tưởng của Người. Tuy chưa thể hiện một cách hệ thống về một nền lập hiến, nhưng những khát vọng của Người về quyền con người, quyền dân tộc, đặc biệt những trăn trở về “thần linh pháp quyền” đã được thể hiện khá rõ qua các tác phẩm này. Với yêu cầu “Bảy xin hiến pháp ban hành/ Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”, Người đã xem Hiến pháp là linh hồn của pháp quyền, là công cụ quan trọng nhất để xác lập và phân định các quyền.
Sau đó, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng về nền lập hiến của Hồ Chí Minh ngày càng được củng cố và phát triển. Với việc đề cao vai trò của Hiến pháp cũng như những nỗ lực của Người để sớm ban hành một bản Hiến pháp khi đất nước vừa mới giành được độc lập đã minh chứng cho điều này. Việc soạn thảo Tuyên ngôn độc lập và đọc bản văn này trước quốc dân đồng bào, nhìn từ góc độ lập hiến, là một sự kiện thể hiện tư tưởng quan trọng về một nhà nước hợp hiến. Ngay sau đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”[5]. Chưa đầy nửa tháng sau, Người đã ký Sắc lệnh thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chuẩn bị trình Quốc hội. Đây là những văn bản có tính chất lập pháp đầu tiên tạo tiền đề cho việc ra đời chính thức của Quốc hội và Chính phủ một cách hợp hiến và hợp pháp.
Trong nội dung của bản Hiến pháp 1946, theo cụ Vũ Đình Hòe thì chính bản thân Người đã soạn thảo “Lời nói đầu” của Hiến pháp, thể hiện rõ linh hồn của Hiến pháp là “đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo. Đảm bảo các quyền tự do dân chủ. Thực hiện chính quyền mạnh mẽ của nhân dân”.
Với tư tưởng về một “nhà nước của số đông, quyền giao cho dân chúng số nhiều”, các quy định của Hiến pháp 1946 đã thể hiện nhiều quan điểm của Hồ Chí Minh về nền lập hiến. Theo đó, Hiến pháp đã xác định một chính thể mới, một cách thức tổ chức bộ máy nhà nước theo phương thức mới. Hiến pháp xác định “nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Chính thể đó không chỉ là chế độ chính trị tiến bộ mà còn là sự thống nhất về lãnh thổ Trung Nam Bắc không thể phân chia.
Về tổ chức bộ máy, Hiến pháp 1946 xác định cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước để tăng cường hiệu quả quản lý và điều hành xã hội. Quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau đã được thiết kế.
Các quyền cơ bản mà người dân Việt Nam trước đó chưa từng được ghi nhận, nay cũng được trang trọng đặt trong Hiến pháp. Tinh thần chung bao quát Hiến pháp 1946 là dân chủ. Dân chủ được thể hiện trong quyền làm chủ của người dân và cả trong mối quan hệ của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Có thể nói rằng, Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp thể hiện rõ nhất tinh thần cơ bản tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.