Lập dàn ý so sánh hình tượng sông Đà và sông Hương

1. Mở bài

Việt Nam in sâu trong ký ức mỗi người với dòng sông Cửu Long, dòng sông Hồng rộng lớn với "tiếng hát bốn nghìn năm" trong thơ Chế Lan Viên, rồi sông Mã mà đoàn quân Tây Tiến gắn bó đời mình, Quang Dũng nhớ và đưa vào cõi bất tử trong thơ. Đến với Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Tuân cũng không ngoại lệ, trong khi Hoàng Phủ Ngọc Tường tha thiết với dòng sông Hương tự tình trầm mặc của vùng đất cô đô, thì Nguyễn Tuân lại khắc một dấu triện vào văn đàn với thể loại tùy bút, và hiện lên những trang văn bất hủ là hình tượng một con sông mạnh mẽ, bạo liệt giữa vùng Tây Bắc.

 

2. Thân bài

2.1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Nguyễn Tuân và "Người lái đò sông Đà": Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Chất tài hoa uyên bác của ông được thể hiện trong khám phá, phát hiện sự vật ở phương diện thẩm mỹ, nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ, vận dụng tri thức, vốn hiểu biết trên nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo dựng hình tượng. Tùy bút "Người lái đò sông Đà" được in trong tập tùy bút "Sông Đà" (1960), gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế năm 1958 của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp.

- Hoàng Phủ Ngọc Tường và "Ai đã đặt tên cho dòng sông?": Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ra tại thành phố Huế và học tại Huế hết bậc Trung học. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ. Phong cách nổi bật của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử và địa lý. "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" là bút ký xuất sắc nhất được viết tại Huế năm 1946 và được in trong tập sách cùng tên.

 

2.2. So sánh 2 dòng sông

Cả hai nhà văn đều khắc họa hình tượng dòng sông với vẻ đẹp, dáng vẻ phong phú, đa dạng ở nhiều khoảng thời gian, không gian, với điểm nhìn khác nhau, bên cạnh đó, cũng không ít điểm chung được hai nhà văn khắc họa khi khám phá những dòng sông này.  Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ và dữ dội. Trong đoạn trích "Người lái đò sông Đà", Nguyễn Tuân tập trung tô đậm nét hung bạo dữ dội của sông Đà, ví con sông như kẻ thù hiểm độc và hung ác. Nét hung bạo ấy có thể thấy rõ qua diện mạo khác thường của dòng sông với cảnh "đá bờ sông dựng đứng vách thành" mà "mặt sông chỉ đúng chính ngọ mới có mặt trời", vách đá chen lòng sông như một cái "yết hầu" hay "có chỗ con nai con hổ có thể vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia". Không chỉ vách đá ven sông, hình ảnh của sóng nước trên mặt ghềnh Hát Lóng "dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm".

Nhưng đáng sợ hơn nữa lại chính là quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La với những cái hút nước sông Đà đầy dữ dội: "Trên sông bỗng có những cái hút nước, giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc". Nhà văn đã đem đến một loạt hình ảnh, âm thanh gai rợn, độc đáo qua biện pháp so sánh thường thấy trong tùy bút này. Âm thanh của cái giếng nước ấy càng ghê rợn hơn khi nó phát ra tiếng ùng ục như bị nghẹt lại, bị chặn đứng ở cuống họng mà sặc sụa, đau điếng. Và không chỉ như thế, trên quãng sông lúc bấy giờ, nước gầm réo lên, tung bọt trắng xóa như bị rót dầu sôi vào lúc đang nóng bừng bừng. Tất cả hình ảnh, âm thanh đó đã kết hợp lại làm thành một "ngoại hình" thật đáng sợ cho cái hút nước sông Đà. Sức mạnh của những cái hút nước hiện lên qua sự tái hiện một chiếc bè gỗ khi vô tình lọt vào: "trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ... nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô lý là những cái giếng ấy nó lôi tuột xuống... thuyền trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi".

Và hình tượng một con sông Đà hung tợn, dữ dội đã được đặc tả đậm đặc nhất ở thác đá sông Đà - mấy chục con thác đá tạo thành các thạch thủy trận vô cùng hiểm trở với biết bao cửa tử. Ở đây, thác đá sông Đà được cảm nhận trực tiếp qua hình ảnh và gián tiếp qua âm thanh. Khi ở xa, tiếng thác gào lên rùng rợn, đầy hoang dã. Khi đến gần, những âm thanh đó không còn là các cấp độ chậm rãi, mà nó biến thành một trường đoạn âm thanh liên hồi khủng khiếp, một tổ hợp âm thanh làm người ta bàng hoàng.

Khác với Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường tự chọn cho mình lối chơi "độc bạch", thiên nhiều về tư duy hướng nội, lắng đọng suy tư để miêu tả hình tượng sông Hương. Chính vì thế, sông Hương được tô đậm ở nét trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của một người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm.

"Ở thượng nguồn sông Hương như một cô cái Di-gan phóng khoáng và man dại... rừng già đã hun đúc cho nó bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và phóng khoáng". Tác giả đã miêu tả sông Hương ở thượng nguồn với sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng cũng dịu dàng, say đắm. Dòng sông đã được thổi bằng ngọn gió tâm hồn dào dạt, nhạy cảm, liên tưởng tự do, phong phú. Khi ra khỏi rừng, sông Hương được thay đổi tính cách "sông như chế ngự được bản năng con gái để mang một vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa cho một vùng văn hóa xứ sở".

Sông Hương trở thành niềm tự hào của Huế vì vậy khi nhắc về nó thông thường người ta hình dung đến gương mặt kinh thành đầy trữ tình như Hoàng Phủ Ngọc Tường để tìm tận về nguồn cội để phát hiện bản chất của cô gái Di-gan, sự cá tính, mạnh mẽ, bản lĩnh, gan dạ, và vững vàng. Đó là một phát hiện đầy lý thú về một dòng sông quen thuộc. Miêu tả sông Hương, nhà văn không nhìn nhận nó trong tư thế độc lập mà đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với kinh thành Huế. Dòng sông mang linh hồn và cảm xúc như một tình nhân trên hành trình tìm kiếm tình yêu đích thực.

Qua đoạn chảy xuôi tìm đường trở về thành phố, sông Hương đã vượt qua những giới hạn khắc nghiệt để chứng tỏ tình yêu với Huế. Nó lặng tờ, duyên dáng qua những khúc chuyển mình đầy mềm mại: "Nó kéo một nét thẳng thực yên tâm", "nó uốn một cánh cung nhẹ sang cồn Hến như một tiếng vâng không nói của tình yêu".

Đã có bao đêm sông Hương tình tự bên thành phố thân yêu của mình để rồi đến lúc phải rời đi nó lại chẳng muốn chia xa mà bịn rịn, quyến luyến. Sông Hương gặp lại thành phố Huế ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ như để nói một lời thề chung thủy với mảnh đất cố đô. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian, là tấm lòng của người dân Châu Hóa xưa mãi chung tình với quê hương, xứ sở. Một cái nhìn nghệ sĩ tài hoa, đa tình mà có lẽ chỉ riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường mới có được.

Điểm chung của hai tác phẩm này là chúng đều được lấy cảm hứng từ vẻ đẹp lộng lẫy của thiên nhiên. Hai con sông với hai góc nhìn khác nhau nhưng để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc. Chúng đều được nhìn nhận như hai nhân vật trữ tình, có tâm tư và suy nghĩ riêng. Cũng như con người, cả hai dòng sông đều được đánh giá dựa trên hai mặt đối lập trữ tình - hung bạo để người ta có thể hình dung toàn diện về chúng. Một đặc điểm không thể không kể đến đó là ngòi bút miêu tả tài hoa, uyên bác của hai tác giả khi miêu tả về dòng sông: chúng đều được nhìn nhận dưới phương tiện văn hóa - thẩm mỹ. Sông Đà đại diện cho thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội nhưng cũng rất trữ tình, còn sông Hương lại là hiện thân cho nét đặc sắc của âm nhạc, thi ca, lịch sử và con người kinh thành Huế.

Một nghệ sĩ đầy lãng tử thích "xê dịch" và ưa thích cảm giác mạnh. Một triết nhân lịch lãm, yêu sự lãng mạn, tinh tế và nhẹ nhàng. Mỗi người mang lại cho ta cảm giác khác nhau về dòng sông, nhưng lại đều đem cả tâm hồn và tài năng của mình để viết nên những áng văn chương còn mãi với muôn đời. Điểm chung lớn nhất của họ chắc hẳn là tấm lòng say mê trước vẻ đẹp, tự hào trước thắng cảnh non sông tổ quốc. Phải chăng chính những điều này đã khiến cho họ hoàn thành những tác phẩm xuất sắc và sống mãi trong lòng độc giả.

 

3. Kết bài

Qua hai tác phẩm "Người lái đò sông Đà" - Nguyễn Tuân và "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" - Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta có thể cảm nhận thật rõ nét tính độc đáo, sáng tạo của hai người nghệ sĩ khi cảm nhận những con sông yêu dấu của quên hương, tổ quốc. Nó không chỉ mang nét đẹp của thiên nhiên mà còn mang nhiều giá trị văn hóa, địa lý, lịch sử độc đáo. Qua đó thể hiện vẻ đẹp đa dạng, phong phú của cảnh sắc quê hương, bộc lộ tình yêu tha thiết, gắn bó với đất Việt của các nhà văn.

Trên đây là toàn bộ bài viết của Luật Minh Khuê về so sánh hai hình tượng sông Đà và sông Hương. Tham khảo: Cảm nhận vẻ đẹp sông Hương ở trong lòng thành phố Huế chọn lọc hay nhất. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho quý độc giả. Xin trân trọng cảm ơn!