NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Giới thiệu chung về C.Mác và Ph. Ăngghen:

1.1 C.Mác (1818–1883)

Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Trier trên bờ sông Mozel, một nhánh của sông Rhein thuộc Trier là một thành phố cổ của Đức, thời Trung cổ. Ông đã cùng với Phriđơrich Ăngghen (Friedrich Engels) mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại như những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học có tác động to lớn và sâu rộng đối với nhân loại tiến bộ.

1.2 Ph. Ăngghen (1820–1895)

F.Ăng-Ghen Tiểu sử Ph. Ăngghen Ph. Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 tại Barmen, tỉnh Ranh, Vương quốc Phổ trong một gia đình chủ xưởng dệt. Từ nhỏ Ph. Ăng- ghen đã bộc lộ tính cách độc lập. Ông là nhà lý luận chính trị, là một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19, người cùng với Các Mác (Karl Marx) đã sáng lập và phát triển chủ nghĩa cộng sản và là lãnh tụ của phong trào công nhân thế giới.

2. Tổng kết kinh nghiệm

Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng 1848 - 1851 sự phát triển của C.Mác và Ph.Angghen về lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản:

Kinh nghiệm cách mạng năm 1848 ở Pháp, Đực, Áo, và các nước khác có một ý nghĩa đặc biệt. Bài học các cuộc cách mạng năm 1848, các cuộc đấu tranh giữa các giai cấp năm 1848-1851 là cứ liệu phong phú đối với sự phát triển học thuyết Mác về Nhà nước và pháp luật. Các vấn đê chính trị, Nhà nước và pháp luật được đặt lên hàng đầu trong quá trình phân tích các bài học cách mạng. Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”,

  1. I.Lênin chỉ rõ: C.Mác đâ phác thảo cụ thể các vấn đề Nhà nước trên cơ sở kinh nghiệm của từng cuộc cách mạng và từng tình huống cách mạng.

Trong nhiêu tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen có những kết luận tểng quát về tính chất, hình thức Nhà nước tư sản, về các Hiến pháp tư sản và pháp luật tư sản nói chung. Điều quan trọng đặc biệt ở đây là đã xây dựng những: quan điểm cơ bản về Nhà nước chuyên chính vổ sản. Tư tưởng về chuyên chính vô sản đã được cụ thể hóa trong kết luận của c.Mác là cần phải đập tan bộ máy Nhà nước tư sản trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” “ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapac”. C.Mác tập trung nghiên cứu các sự kiện xảy ra Pháp và phân tích tình hình xâ hội của phong trào cách mạng pháp, còn Ph.Ăngghen thì nghiên cứu tình hình ở Đức, ông viết các tác phẩm nổi tiếng: “Chiến tranh nông dân ở Đức” “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức”. Tư tưởng lớn nhất trong các tác phẩm này là tư tưởng về chuyên chính vô sản. Vấn đề có tính nguyên tắc của chuyên chính vô sản là cần phải thiết lập Nhà nước chuyên chính vô sản. Nếu trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” C.Mác viết: chủ nghĩa xã hội khoa học khác hẳn với chủ nghĩa không tưởng tiểu tư sản, “Chủ nghĩa xã hội ấy là sự tuyên bố của một cuộc cách mạng không ngừng”, thì tới tác phẩm “ngày mười tám tháng sương mù” của Lui Bônapac khẳng định việc đập tan bộ máy Nhà nước tư sản là điều kiện tất yếu của thắng lợi vô sản, để giai cấp vô sản giành chính quyên. Cũng trong tác phẩm này, c.Mác phân tích một cách sâu sắc các mắt xích khác nhaù củầ bộ máy Nhà nước Pháp, xem xét mối tương quan giữa các cơ quan lập pháp và hành pháp của Nhà nước tư sản trong tiến trình phát triển của nó. c.Mác chỉ ra rằng bộ máy hành pháp ồ Pháp là đội quân quan lại khổng Tô tiến hành giám sát chinh trị đối vớỉ đồng đảo quần chúng nhân dân, đó là bộ máy ăn bám. Trong điều kiện như vây cơ quan lập pháp mất hoàn toàn khậ năng gây ảnh hưỏng thực tế. C.Mác nói cuộc đảo chính về mặt Nhà nước của Lui Bônapac đó chính là chiến thắng của quyên lực hành pháp đối với quyền lập pháp. Cuối cùng, bộ máy quan liêu - quân sự đã xuất hiện, nó là con đẻ của chế độ chuyên chế. Bộ máy đó càng trồ nên chuyên chế trong quá trình đàn áp phong trào cách mạng của công nhân. Mác kết luận: “Tất cả những cuộc đảo chính đáng lẽ phải đập tan bộ máý này thì lại làm cho nó hoàn bị thêm. Các đảng phái thay thế nhau giành quỳền thống trị, đều coi việc chiếm lấy bộ máy Nhà nước khổng fô là chiến lợi phẩm cơ bản trong chiến thắng của mình.”

Phân tích bản chất giai cấp Nhà nước Pháp, c.Mác trở lại vấn đề nông dân, mối liên minh của giai cấp vô sản với các tầng lớp nhân dân lao động khác. Mác chỉ ra rằng các lợi ích của nông dân ngày càng trở nên mâu thuẫn với lợi ích của tư sản. “Nông dân vì vậy đã tìm thấy người đồng hành và lãnh đạo tất nhiên của mình ồ vô sản thành phố...”

Tổng kết kinh nghiệm các cuộc đấu tranh giai cấp, những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học rút ra kết luận khoa học đặc biệt quan trọng, một phát hiện mối về xây dựng học thuyết chuyên chính vô sản. Trong bức thư gửi Vâyđơmâye ngày 5-3-1852 C.Mác đa tổng kết kết quả nghiên cứu của mình vá của Ph.Ăngghen vẽ vấn đề chuyên chính vô sản, ông viết “Những cái gọi là mới mà tôi đã làm được, được chứng minh như sau” 1. Sự tồn tại của các giại cấp liên quan chỉ với các giại đoan lịch sử nhất định ,của sự phát triển sản xuất, 2 - đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản, 3 - chuyên chính vô sản chỉ là bước quá độ để đi đến xóa bỏ mọi giai cấp và đi đến xã hội không có giai cấp".

c.Mác và Ph.Ăngghen coi giai cấp vô sản là lực lượng cách mạng quyết định trong qùá trình cách mạng xã hội và chính họ là người thực hiện chuyên chính. Đây là một vấn đề rất quan trọng, bỏi vì trước đó các nhà lý luận vẫn cho rằng người đóng vaỉ trò chuyên chính, người mang quyền lực Nhà nước sau cách mạng phải là giai cấp khác, chẳng hạn giai cấp nông dân hoặc giai cấp tiểu tư sản. Điều này không chỉ ở chở giai cấp nào sè dân dắt nhân dân trong quá trình cách mạng mà còn ở chở giai cấp nào sẽ tổ chức xây dựhg nền xã hội mđi. Chúng ta không thể tìm thấy những nhà tư tưởng nào đã nhận thức đúng khi giải quyết vấn đề này ở tất cả các nước. Nhất là ở các nước mà giai cấp vô sản còn chưa phát triển chủ yếu có giai cấp nông dân, tiểu tư sản.

Tại sao không là giai cấp nông dân mà là giai cấp vô sản? Bỏi vì giai cấp nông dân có hình thức sản xuất lạc hậu hơn so với giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản đại diện cho phương thức sản xuất Ổn định và tiến bộ hơn. Ưu thế của họ là chở: thứ nhất, họ có phương pháp và kiểu cách sản xuất tốt hơn; thứ hai, giai cấp công nhân không có sở hữu cá thể, khác với giai cấp nông dân, Khi con người có sở hữu cá nhân (dù là nhỏ) họ có xu hướng muốn tăng sở hữu đó. Xã hội tương lai phải xóa bỏ sở hữu cá thể, việc này chỉ có giai cấp vô sản là người thực hiện được, ơ đây, chúng ta không chỉ nhìn thấy vai trò khách quan của giai cấp công nhân mà còn thấy ý thức của họ nữa. Giai cấp công nhân là người luôn luôn bảo vệ lý tưởng giải phóng xã hội bóc lột, khỏi sự phân chia giai cấp.

C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh đặc điểm của giai cấp công nhân, đó là giai cấp mà vị trí khách quan và ý thức của họ đã không làm cho họ trở thành giai cấp ích kỷ. Đô'i với các giai cấp có sở hữu cá thể thì họ luôn hương đến việc tăng cường sở hữu và Điều này nhất định dẫn đến xung đột về lợi ích với các giai cấp khác. Khi giai cấp tư sản chống lại phong kiến thì họ làm như vì quyền lợi của toàn dân. vơi sự giúp đỡ của nhân dân, giai cấp tư sản sau khi lật đô’ được phong kiến, thì lại thực hiện chuyên chính vơi nhân dân. Giai cấp tư sản đã đặt quyền lợi của mình đô'i lập với quyền lợi của nhân dân của toàn xã hội. Giai cấp công nhân thì khác hẳn, đó là giai cấp coi quyền lợi của họ luôn luôn phù hợp với quyền lợi của toàn xã hội trong một giai đoạn dài, kể cả sau khi cách mạng vô sản thành công. Giai cấp công nhân đứng lên đâu tranh vì quyền lợi của mình,

Đồng thời cũng là vì quyền lợi của các giai cấp bị bóc lột và nhưng người lao động khác. Chính đấu tranh để xác lậpsở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, xóa bỏ bóc lột cúng là vì lợi ích'lớn lao của toàn xâ hội. Giai cấp công nhân là động lực của tiến bộ xâ hội, không thể tiến lên chủ nghĩa xã hội nếu thỉếu vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.

Có một lực lượng vô sản lổn mạnh đó là Điều rất quan trọng để đạt được thằng lợi của chủ nghĩa xã hội vấ chủ nghĩa cộng sản. Nhưng trong thế kỷ 19, không phải tất cả các nừớc đều có lực lượng vô sản này. Vậy phải làm thế nào? Vặn đê này đã đặt ra trước C.Mác và Ph.Ăngghen. Các ông cho rằng, nếu trong xã hội thiếu lực lượng vô sản Iđn mạnh, mà ồ đó đã có sự bóc lột nhất định của giai cấp thống trị thì cần thiết phậị đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều quan trọng là phải dựa vào các tư tưởng tiến bộ của giai cấp vô sản. Nơi nào có lực lượng chông tư sản, chống phong kiến, họ sẽ chọn con đường, đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong nhưng Điều kiện đó, thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của công cuộc xây dựng chu nghĩa xã hội sẽ phức tạp và kéo dài hơn.

Một tư tưởng đặc biệt quan trọng của Mác, mà Người đã phát triển trên kinh nghiệm phong trào cách mạng 1842 - 1852. Đó là việc chuyển Nhà nước tư sản sạng Nhà nựớc xã hội chủ nghĩạ. Đó là tư tưởng xóa bỏ bộ máy Nhà nước tư sản vào đúng lúc càn thiệt. Trong lịch sử cách mạng, các cuộc cách mạng đêu hình thành khi bộ máy Nhà nước của giai cấp này chuyển vào tay giai cấp khác. Giai cấp làm cách mạng muốn giành được chính quyền. Phân tích thực trạng tư bản đầu thế kỷ 19, Mác đã đưa ra kết luận rằng Nhà nước tư sản là bộ máy thống trị sử dụng để bảo vệ lợi ích của chúng. Giai cấp công nhân nắm quyền chuyên chính đã đặt nhiệm vụ cho Nhà nước của mình không chỉ ở việc xác lập quyền thống trị. Họ không cần bộ máy thống trị như thế. Họ cũng không cần một bộ máy quan liêu dùng vào việc trấn áp bắt buộc, cấm đoán, tổ chức cai trị xã hội tư bản. Công việc của Nhà nước của giai cấp công nhân đi theo một hướng hoàn toàn mới. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến kết luận, giai cấp công nhân sau khi giành được quyền lực chính trị phải nhanh chóng tiến hành đập tan bộ máy Nhà nước cũ, không chỉ là việc chiếm lấy toàn bộ bộ máy đó mà phải xây dựng lại, cải tạo lại. Vứt bỏ một phần bộ máy Nhà nước tư sản là nhiệm vụ của công nông. Mác và Ph.Ăngghen đưa ra kết luận này xuất phát từ những kỉnh nghiệm của các cuộc cách mạng ở châu Âu thế kỷ 19. Kết luận này là đúng đắn cho các thời gian sau đó và cho cả thời đại chúng ta. Bây giờ chúng ta đã có những kinh nghiêm thực tiễn của các cuộc xây dựng bộ máy Nhà nước ở một số nước châu Âu, châu Á, chầu Mỹ, Latỉnh.

3. Vấn đê pháp luật trong các tác phẩm kinh tế của C.Mác và Ph.Ãngghen

Từ những năm 50 thế kỷ qua. C.Mác và Ph.Ăngghen bắt đầu nghiên cứu các tiên tfê của cách mạng xã hội chủ nghĩa tương lai. Họ đã đi theo nhiều hưđng khác nhau. C.Mác quan tấm nghiên cứu kinh tế chính trị học. Ông viết tác phẩm nổi tiếng của mình “Tư bản luận”. Các quan điểm chính của tác phẩm này là cơ sở của học thuyết chính trị kinh tế Mác-Lênih. Và Đồng thời mở ra thế giới quan mói cho giai cấp vô sản, người cần phải chuẩn bị cuộc cách mạng vô sản. Rất thú vị là trong các tác phẩm về kinh tế của C.Mác chứa đựng nhiêu chở bàn về Nhà nước và pháp luật. Có những luận điểm được nêu ra làm cơ sở cho quan điểm duy vật về Nhà nước và pháp luật. Trong “tư bản luận” C.Mác dã làm sâu thêm các luận điểm tiếp đó của mình về sự tương quan giứa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc, giữa các hình thức, kinh tế và chính trị của đời sống xã hội. Người chỉ ra cấu trúc bên trong của mối liên hệ hữu cơ của Nhà nước bóc lột và phương thức sảnxuât tương ứng với nó. Những đại diện của kinh tế chính trị cũ mô tả Nhà nước là lực lượng đúng trên kinh tế, trên xã hội. Họ đã không nêu ra được mối liên hệ bên trong của Nhà nước, và đã mô tả là Nhà nước cố thể làm tất cả nếu muốn. Thực ra thì mối liên hệ giữa Nhà nước và kinh tế thể hiện tính chất chung giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở. Nhà nước, pháp luật, luật lệ đó chỉ là kết quả của sự phát triển kỉnh tế của xã hội. Trong tư bản C.Mác đã chỉ ra là Nhà nước thể hiện lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế.

Sự phân tích khoa học này rất sâu sắc, thuyết phục đến mức, luận điểm này đã được áp đụng rộng rãi trong khoa học.

Trong “tư bản” C.Mác đã chỉ ra khả nàng thực tế của Nhà nước trong việc lãnh đạo kinh tế. Còn kinh tế và các quan hệ sản xuất lại quyết định sự phát triển của Nhà nước và pháp luật. Tuy thế Nhà nước và pháp luật có thể tác động ngược lại quá trình phát triển kinh tế.

Trong lĩnh vực pháp luật cần thiết phải chú ý đến sự tương quan giữa kinh tế và pháp luật. Ở đây C.Mác đã đưa ra Những điểm chính nhất về nhận thức pháp luật C.Mác đã chỉ ra rất cặn kẽ những quan hệ pháp lý, quan hệ kinh tế và quan hệ buôn bán hàng hóa ở thị trường. Sự ra đời của pháp luật bắt đầu từ việc trào đổi hàng hóa. Trong “tư bản” Mác đã mô tâ, khi hai người đi ra chợ để trao đổi hàng hóa thì họ bắt đâu có quan hệ không chỉ kinh tế mà có cả quan hệ pháp luật. Mởi một người trong họ công nhận người kia là người chủ hàng hóa, là người sở hữu đồ vật đen bán. Quá trình trao đổi xảy ra như sau; vật lấy vật, hàng lấy hàng hoậc là hàng lấy tiên. Trong các trường hợp đó, những người chủ hàng hóa trước khi đi ra chợ, cần phải công nhận nhau là chủ thể của pháp luật. Trao đổi kinh tế vồ thực chất là trao đổi quyền của mình đổì với hàng đó. Còn người kia lại trở thành người sồ hữu người có quyền đối với hàng mua. Như vậy ngoài những quan hệ kinh tế khi họ trao đổi bằng tiền, còn tồn tại quan hệ pháp luật, qúan hệ ý chí qua lại. Khi nhận tiên, người bán hàng coi như quyền của mình đối với vật đã hết hoặc ngược lại.

Tóm lại, C.Mác đã chỉ ra quan hệ kinh tế, pháp luật trong lĩnh sực sản xuất hàng hóa là không thể tách rời. Mác đã vạch trần quan điểm của một sô' học giả tư sản trong vấn đê pháp luật tư bản. Chẳng hạn khẩu hiệu tự do, bình đẳng. Dù có nói gì đi nữa thì các khẩu hiệu này là không thực tế. Nhưng rất đáng tiếc là nó được phê bình tại thị trường tư bản. Và như vậy Mác đã chỉ ra nguồn gốc thấp kém của khẩu hiệu tự do tư sản. C.Mác vạch trần quan niệm của các nhà tư tưởng tư sản trong việc trung thành với các khẩu hiệu tự do, bình đẳng. Tại sao tư sản lại cần nói tđi tự do và bình đẳng. Nguyên nhân rất đơn giản: Những chủ hàng hóa ở chợ cần phải công nhận nhau là những chủ thể pháp luật tự do, họ có thể bán hàng hoặc có thể không bán. Tự do bán hàng hóa mà họ có đó là cơ sở của sự hiểu biết tư sản về tự do. Mạt khác chủ thể tự do bán hàng cần phải công nhận người kia là chủ thể bình đẳng với mình. Cũng như người chủ hàng có quyền tự do bán hàng của mình thì người đó cũng cần công nhận người khác có quyền ngang như vậy. Họ tự do và bình đẳng ngang nhau. Đây là quan niệm của tư sản về tự do và bình đẳng. C.Mác đã chỉ ra Điều này rất sâu sắc và thuyết phục. Đây là sự giải thích duy vật quá trình biện chựng đã xảy ra trong xã hội tư bản. Chủ nghĩa tư bản thế kỷ 18 là chế độ Xã hội đầu tiên có mức độ phát triển hàng hóa rộng rãi. Chủ nghĩa tư bản thế kỷ 18 là người sản xuất hàng hóa lớn. Ngược lại, những nhà sản xuất hàng hóa nhở thì không cần và cũng không sinh ra các hình thức pháp luật như là trong chủ nghĩa tư bản.

Một đóng góp to lớn của C.Mác là đã chỉ ra rằng sự phát triển pháp luật không hoàn toàn trùng với phát triển kinh tế, tuy rằng phát triển kinh tế quyết định phát triển pháp luật. Dưới tác động của một số Điều kiện khách quan và chủ quan, người làm luật và luật lệ có thể rời ra khỏi thế giới kinh tế. Như vậy, pháp luật có con đường phát triển độc lập của mình. Luận điểm này cần phải chú ý bỏi vì có những nhà lý luận mác-xít cho rằng pháp luật không có đốì tượng của mình, mà đối tượng xuất phát từ kinh tế V.V.. Luận điểm này rất quan trọng để đấu tranh với các quan điếm kinh tế trong việc giải pháp luật.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê