- 1. Suy đoán vô tội là gì?
- 2. Sự tồn tại của nguyên tắc suy đoán vô tội trong hệ thống Luật liên bang Xô Viết
- 2.1. Sự bác bỏ ban đầu về suy đoán vô tội
- 2.2. Sự xuất hiện của suy đoán vô tội
- 3. Suy đoán vô tội trong Hiến pháp Xô Viết năm 1977
- 4. Địa vị đương thời của suy đoán vô tội
- 5. Chức năng của suy đoán vô tội trong luật Xô Viết
1. Suy đoán vô tội là gì?
Suy đoán vô tội là nguyên tắc mà theo đó bị can, bị cáo được coi là vô tội, không phải chịu trách nhiệm hình sự, khi lỗi của người đó chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật quy định và chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Suy đoán vô tội lại nhận được sự chú ý của Liên bang Xô Viết trong những năm gần đây như một phần nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng của nền tư pháp.
2. Sự tồn tại của nguyên tắc suy đoán vô tội trong hệ thống Luật liên bang Xô Viết
Trong hầu hết thẩm quyền của hệ thống Thông luật và Dân luật, suy đoán vô tội tồn tại ở phiên tòa xét xử hình sự mặc dù không được thể hiện một cách đặc thù trong hiến pháp hoặc văn bản pháp luật. Fletcher và Berman là những nhà diễn giải hàng đầu trong giới văn học phương Tây về nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật Xô Viết.
2.1. Sự bác bỏ ban đầu về suy đoán vô tội
Trong thời kỳ nối tiếp ngay sau Cách mạng Nga năm 1917, học thuyết về chuyên chính vô sản đã được vén màn và một vài luật gia nhận thấy suy đoán vô tội đã quá nghiêng về phía bị can và chống lại Nhà nước. Do đó, V s. Tadevosian đã lập luận chống lại những người đề xướng suy đoán vô tội rằng "đặt gánh nặng lên vai Nhà nước ... nghĩa vụ chứng minh tội phạm, giải phóng bị can khỏi bất cứ nghĩa vụ nào, đề nghị giải thích bất cứ nghi ngờ nào liên quan đến lợi ích của bị can và không kết tội bất kì ai cho đến khi tội phạm được chứng minh một cách chắc chắn, họ hùng hồn bảo vệ sự tự do và sự bất khả xâm phạm của cá nhân," nhưng làm suy giảm "lợi ích của Nhà nước và xã hội." Tadevosian chỉ ra rằng "trong các luật có hiệu lực của Xô vết, chưa từng có bất kì sự suy đoán vô tội hay có tội nào của công dân và không cần phải có một sự giả định hay suy đoán trước."
Một số luật gia Xô Viết khác của thời kỳ này không ủng hộ suy đoán vô tội với lý do là nó quá hình thức và trừu tượng, liên kết với hệ thống chứng cứ hình thức của thời Trung cổ đã từng được áp dụng ở châu Âu. Họ sợ rằng giả định sẽ cho phép Tòa án có một giải pháp dễ dàng nếu việc thu thập chứng cứ trong một vụ án khó khăn. Trong vụ án như vậy, Tòa án có thể tránh được những vấn đề nan giải của sự việc đơn giản bằng cách tuyên bố rằng có sự nghi ngờ và phán quyết vô tội. Ngoài ra, họ lập luận rằng ý nghĩa của sự suy đoán cũng không rõ ràng. Sự khao khát hàng đầu trước đó của nền pháp lý Xô Viết được cho là để làm ra luật công chúng có thể hiểu được. Hơn nữa, vì trừu tượng nên suy đoán vô tội được cho là xung đột với quan niệm của Marxist về sự vững vàng của sự thật.
Góp phần vào sự phản bác bỏ suy đoán vô tội là một thái độ tiêu cực về phía quyền của cá nhân dựa trên niềm tin rằng quyền như vậy được phát triển bời xã hội tư bản, nơi mà họ tuyên bố áp dụng cho tất cả mọi người nhưng lại chỉ được thực thi trên thực tế bởi giai cấp tư sản. Do đó, quyền ở Xô Viết với giai cấp tư sản hữu ích hơn giai cấp vô sản. Đối nghịch với cơ sở của khuynh hướng chống lại quyền dựa trên nền tảng này phát triển một khuynh hướng khác mà mọi quyền trong xã hội Xô Viết nên được thực thi bởi mọi giai cấp. Do đó, một người trung thành với suy đoán vô tội từng nói:
Thật không thỏa đáng khi bác bỏ nguyên tắc suy đoán vô tội đối với bị can trong luật tố tụng hình sự Xô Viết chì vì nó lần đầu được đẩy mạnh trong tố tụng hình sự tư sản. Nếu vậy, một người có thể phải bác bỏ nhiều khái niệm và nguyên tắc có nhiều sự tương đồng bên ngoài vói thực tiễn của tư sản cùng tên.
2.2. Sự xuất hiện của suy đoán vô tội
Thập niên 1940, nỗ lực để suy đoán vô tội trở thành một học thuyết chuyên chính vô sản bị chệch hướng. Vào năm 1948, Liên bang Xô Viết đã hỗ trợ việc bổ sung suy đoán vô tội vào quy định theo Tuyên ngôn Nhân quyền phổ quát 1948. Cuối thập niên 1950, sự đồng thuận về vấn đề này đã xuất hiện, được xúc tiến bởi sự khao khát thúc đẩy quyền như một đối trọng với sự lạm quyền của nhân quyền giữa hai thập niên 1930 và 1940.
Khi luật tố tụng hình sự được dự thảo vào cuối thập niên 1950, một vài người ủng hộ suy đoán vô tội đã cố gắng thể hiện nó bằng việc quy định trong luật. Một vài người như chuyên gia Trusov không đồng thuận với việc thêm sự suy đoán vào nguyên tắc của luật. Ông Trusov sử dụng ví dụ về một người bị bắt vì thực hiện tội phạm và không thể coi người đó vô tội.
Trong bất cứ tình huống nào, bộ luật của giai đoạn 1958-1960 đã bao hàm "sự bảo đảm thể hiện suy đoán vô tội nhưng không chứa công thức "suy đoán vô tội" như đã nói và sử dụng thuật ngữ" Nó kết hợp những định đề mà nhìn chung được coi là sự thể hiện của suy đoán vô tội: không có nghĩa vụ chứng minh đối với bị can, chỉ kết tội dựa trên bằng chứng tại phiên tòa và không kết tội dựa trên giả định. Hầu hết bộ luật tố tụng hình sự của các nước XHCN ở Đông Âu đã quy định rõ về suy đoán vô tội.
3. Suy đoán vô tội trong Hiến pháp Xô Viết năm 1977
Một bản Hiến pháp mới đã được ra đời ở Xô Viết năm 1977. Trong chương về Tòa án mà ở đó một số quyền cá nhân rất cụ thể, suy đoán vô tội không được quy định rõ ràng. Fletcher đã nhận định sự bỏ quên này hàm ý "có lẽ (sự suy đoán) không tồn tại."
Dù sao, Hiến pháp cũng quy định hai Điều được cho là kết hợp sự suy đoán. Điều 158 quy định rằng bị can có quyền kháng cáo. Điều 160 quy định rằng không ai có thể bị coi là có tội ngoại trừ đây là phán quyết của Tòa án. Vào năm 1978, Tòa án Tối cao Xô Viết đã từng viện dẫn một số luật liên quan đến suy đoán vô tội, lần đầu tiên giải thích sâu sắc về nội hàm của sự suy đoán. Đây cũng là "sự giải thích" luật. Tòa án đã thấy được suy đoán vô tội trong Hiến pháp mặc dù còn chưa rõ ràng và cụ thể về việc tìm thấy sự suy đoán ở đâu.
Nghị định mang tên "Quyền kháng cáo" và tham chiếu cụ thể đến Điều 158 của Hiến pháp, bảo đảm "quyền kháng cáo." Tòa án tuyên bố như sau:
Để có thể đảm bảo quyền kháng cáo của bị can (hoặc bị cáo), Tòa án phải xem xét nghiêm ngặt đến nguyên tắc được Hiến pháp bảo vệ rằng bị can (hoặc bị cáo) được suy đoán vô tội cho đến khi tội phạm được chứng minh theo đúng thủ tục luật định và được thiết lập bởi phán quyết có hiệu lực của Tòa án.
Vì "quyền kháng cáo" được quy định tại Điều 158, một người có thể kết luận rằng đó là nơi Tòa án có thể tìm thấy suy đoán vô tội. Tòa án phải tham chiếu sự suy đoán như "một nguyên tắc được Hiến pháp bảo vệ." Điều này gợi ý rằng sự suy đoán cũng có thể được tìm thấy ở Điều khác ngoài Điều 158 Hiến pháp nhưng cũng được gộp lại thành "quyền kháng cáo", một kiểu quy định che chắn cho tất cả các quyền của bên kháng cáo, bao gồm cả Điều 160 - quyền không bị suy đoán có tội nếu không có phán quyết của Tòa án là có tội. Nếu sự suy đoán được quy định chỗ khác trong Hiến pháp thì chỉ có Điều 160 là logic.
Học giả Xô Viết cho rằng suy đoán vô tội ở Điều 160 rõ hơn ở Điều 158. Hơn nữa, bình luận bán công khai Hiến pháp năm 1977 quy định Điều 160 "chứa đựng tuyên bố dân chủ quan trọng của suy đoán vô tội." Một học giả thấy được suy đoán vô tội ở Điều 160, tin rằng suy đoán vô tội bao hàm quyền kháng cáo hơn là ngược lại. Petrukhin lập luận rằng "sẽ logic hơn" nếu nói rằng "quyền kháng cáo được trao cho bị can hoặc cụ thể là nghi phạm bõi vì luật định không hề suy đoán họ có tội."
4. Địa vị đương thời của suy đoán vô tội
Kể từ sự ra đời của bản Hiến pháp năm 1977, một học giả viết: "nhận định của một vài tác giả về cái gọi là "mang tính tư bản" của suy đoán vô tội, phương pháp luận lỏng lèo và sự bất hợp lý của suy đoán đối với luật tố tụng hình sự Xô Viết đã biến mất."
Mặt khác, Fletcher tuyên bố rằng những bài viết của ba học giả vào giai đoạn 1979- 1981 bác bỏ sự tồn tại của suy đoán vô tội trong luật Xô Viết. Dù sao, Fletcher dựa vào bài viết của ba tác giả của Strogovich, người nhận định rằng ba người đó không chấp nhận sự suy đoán. Nhưng ba tác giả mang tên Strogovich chỉ có một người bác bỏ sự suy đoán (V D. Arsen'ev). Hai người còn lại, A. p Guliaev và la. o. Motovilovker đều cho rằng suy đoán vô tội tồn tại trong luật Xô Viết. Strogovich bất đồng với quan điểm của Guliaev rằng sự suy đoán bị xâm phạm bởi sự sai lệch tiền tố tụng của Tòa án chỉ đỉnh mà xảy ra việc chứng minh có tội bởi điều tra viên và kiểm sát viên. Ông lập luận rằng Motovilovker không thấy suy đoán vô tội ở Điều 160 Hiến pháp mà ở luật khác.
Suy đoán vô tội có thể được coi là tồn tại ở Xô Viết bởi một đường khác. Vào năm 1973, Xô Viết thông qua Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị. Văn kiện quy định: "Mọi người bị cáo buộc đều có quyền được suy đoán vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội theo luật định”. Quy định năm 1978 của Xô Viết về văn kiện lần đầu quy định trong luật Xô Viết rằng "cơ quan Nhà nước liên quan đến các vấn đề được quy định bởi những văn kiện quốc tế của Xô Viết sẽ phải đảm bảo đầy đủ nghĩa vụ được những văn kiện này bảo vệ đến từ phía Xô Viết." Vì Xô Viết phải tuân thủ suy đoán vô tội theo Công ước nên nghĩa vụ cần phải thuộc về phía của Tòa án.
5. Chức năng của suy đoán vô tội trong luật Xô Viết
Vì đã được những nhà phân tích Xô Viết ghi nhận, suy đoán vô tội quy định sự bảo vệ chung cho bị can. Suy đoán cũng chứa đựng những quy phạm mang tính bảo vệ cụ thể hơn. Quan điểm của Savitskii: "khái quát hóa, hòa nhập với tất cả những bảo đảm tố tụng mà luật quy định để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can." Strogovich thì viết như sau:
Vấn đề không chỉ nhỏ lẻ mà rất quan trọng, liên quan đến quy phạm tố tụng mà về nguyên tắc của tất cả những hoạt động tố tụng trực tiếp liên hệ với bản chất đối nghịch của phiên tòa và quyền kháng cáo của bị can. Toàn bộ hệ thống tố tụng hình sự, toàn bộ nội hàm của các quan hệ thủ tục đều phụ thuộc vào việc giải quyết một chiều hay vấn đề khác của của suy đoán vô tội.
Fletcher nhìn nhận kỹ càng hơn về chức năng của suy đoán vô tội trong luật Xô Viết. Ông thấy vấn đề chính của sự đấu tranh quyền lực tối cao giữa Tòa án và cơ quan công tố (Viện kiểm sát). "Đằng sau sự xê dịch của học thuyết trong những tranh luận sai lầm che mờ sự tranh đấu quan trọng về mặt tổ chức giữa viện kiểm sát và Tòa án." về "sự tranh đấu", ông viết:
Tác động lên kết quả của vụ án và bên đối nghịch là hai nhánh lớn trong hệ thống pháp luật Xô Viết: Viện kiểm sát và Tòa án ... vấn đề có chăng là việc kết luận tiền tố tụng của Viện kiểm sát ảnh hướng đến đánh giá của thẩm phán tại phiên tòa. Hệ thống sẽ hiệu quả hơn nếu thẩm phán có thể dựa vào phán quyết của Viện kiểm sát vì thẩm phán có thể dựa trên phán đoán của chuyên gia thẩm định. Chưa kể sự đánh giá của Tòa án trì hoãn Viện kiểm soát, phiên tòa không còn là lá chắn chống lại việc kết tội người vô tội.
Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Suy đoán vô tội là gì? Tìm hiểu sự tồn tại của suy đoán vô tội trong hệ thống luật Liên bang Xô Viết".
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)