1. Tài sản phi rủi ro

Tài sản phi rủi ro trong tiếng anh là Risk-free asset. Tài sản phi rủi ro được hiểu là những tài sản mang lại tỉ suất lợi tức chắc chắn bằng lãi suất phi rủi ro.

 

2. Đặc trưng của tài sản phi rủi ro

Trên thực tế, không có tài sản nào hoàn toàn không có rủi ro, tuy nhiên các chủ thể là những nhà nghiên cứu thường lấy tín phiếu kho bạc làm cơ sở cho tài sản phi rủi ro trên thị trường. Bản chất ngắn hạn của các tín phiếu cũng sẽ làm cho giá trị của chúng không nhạy cảm với những biến động lãi suất.

Do đó các chủ thể là các nhà đầu tư có thể chốt lợi tức danh nghĩa ngắn hạn bằng cách thực hiện việc mua một tín phiếu và nắm giữ tín phiếu đó đến khi đáo hạn. Ngoài ra những biến động về lạm phát trong thời gian vài tuần, thậm chí vài tháng không đáng kể so với sự thay đổi về lợi tức của cổ phiếu.

Một số nhà đầu tư thường sử dụng các công cụ trên thị trường tiền tệ làm tài sản phi rủi ro. Đây thường là những công cụ ngắn hạn, chính bởi vì vậy mà đa số không chịu tác động rủi ro và tương đối an toàn với rủi ro tài chính.

Đa số hiện nay các quỹ trên thị trường tiền tệ nắm giữ chủ yếu ba loại chứng khoán-tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng (CDs) và thương phiếu (CP).

Lợi tức đến khi đáo hạn trên chứng chỉ tiền gửi -CDs và thương phiếu CP trong cùng khoảng thời gian như nhau luôn cao hơn lợi tức của các tín phiếu.

Rủi ro của các khoản đầu tư ngắn hạn hàng đầu như CDS và CP thực chất là rất nhỏ khi chúng ta so với rủi ro của đa số các tài sản khác như trái phiếu doanh nghiệp dài hạn, chứng khoán doanh nghiệp hoặc bất động sản.

 

3. Tài sản có rủi ro

Tài sản có rủi ro trong tiếng Anh là Risk weighted assets.

Tài sản có rủi ro nghĩa là tổng giá trị tài sản "có" xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản "có" tương ứng của cam kết ngoại bảng xác định theo mức độ rủi ro. Hoặc tài sản có rủi ro được hiểu cơ bản chính là tài sản của ngân hàng hoặc các khoản tiếp xúc ngoại bảng, được tính toán theo rủi ro.

Có thể hiểu, mỗi loại tài sản "có" của ngân hàng sẽ được gắn với một hệ số rủi ro (%) căn cứ theo mức độ rủi ro của tài sản. Hệ số rủi ro được Ngân hàng nhà nước quy định cụ thể và nó sẽ được sử dụng nhằm mục đích để tính các hệ số an toàn vốn của ngân hàng thương mại.

Trong hoạt động ngân hàng, các khoản mục chi tiết của tài sản "có: quan trọng nhất có thể kể đến là:

  • Cho vay khách hàng (tín dụng)
  • Chứng khoán đầu tư - kinh doanh
  • Tiền gửi, cho vay các tổ chức tín dụng khác (thị trường liên ngân hàng)
  • Tiền - kim loại quý tại quỹ
  • Tài sản cố định của ngân hàng

 

4. Phân loại tài sản có rủi ro của ngân hàng 

Phân loại tài sản có rủi ro của ngân hàng được quy định tại Điều 6 Thông tư 39/2013/TT-NHNN:

"1. Tiền, vàng gửi tại ngân hàng nước ngoài, cho vay và thanh toán với ngân hàng nước ngoài:

a) Nhóm 1: Tiền, vàng gửi tại ngân hàng nước ngoài cho vay và thanh toán với đối tác thuộc tiêu chuẩn lựa chọn đầu tư của Thống đốc ngân hàng Nhà nước phê duyệt trong từng thời kỳ( trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này)

b) Nhóm 2: Tiền, vàng gửi tại ngân hàng nước ngoài, cho vay và thanh toán với dối tác không thuộc tiêu chuẩn lựa chọn đầu tư của Thống đốc Ngân hàng nhà nước tại thời điểm xác định dự phòng rủi ro (trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này).

c) Nhóm 3: Tiền, vàng gửi tại ngân hàng nước ngoài cho vay và thanh toán với đối tác tại quốc gia đang xảy ra chiến tranh, khủng bố, phá sản, thiên tai và đối tác đó không còn khả năng thanh toán.

2. Chứng khoán đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế:

Ngân hàng nhà nước không thực hiện phân nhóm chứng khoán đầu tư trên thị trường quốc tế cho mục đích trích lập dự phòng rủi ro. Việc xác định dự phòng cụ thể đối với khoản mục này chỉ thực hiện đối với các loại chứng khoán đang đầu tư trên thị trường tài chính quốc tế bị giảm giá so với giá trị ghi trên sổ kế toán.

3. Các khoản tái cấp vốn:

a) Nhóm 1: Các khoản tái cấp vốn trong hạn;

b) Nhóm 2: Các khoản tái cấp vốn đã quá hạn dưới 1 năm và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ lần đầu.

c) Nhóm 3: Các khoản tái cấp vốn đã quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ lần thứ hai.

d) Nhóm 4: Các khoản tái cấp vốn đã quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ lần thứ ba.

đ) Nhóm 5: Các khoản tái cấp vốn đã quá hạn từ 3 năm trở lên, những khoản tái cấp vốn không có thời hạn thanh toán, khoản nợ được khoanh và những khoản tái cấp vốn được gia hạn nợ từ lần thứ tư trở lên.

4. Thanh toán với nhà nước và ngân sách nhà nước:

a) Nhóm 1: Các khoản thanh toán với nhà nước trong ngân sách nhà nước trong hạn.

b) Nhóm 2: Các khoản thanh toán với nhà nước và Ngân sách nhà nước đã quá hạn (trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này)

c) Nhóm 3: Các khoản nợ cũ của ngân sách nhà nước chưa được thanh toán phát sinh trước thời điểm Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997 có hiệu lực thi hành.

5. Các khoản phải thu khác:

a) Nhóm 1: Các khoản phải thu khác trong hạn và quá hạn dưới 6 tháng.

b) Nhóm 2: Các khoản phải thu khác quá hạn từ trên 6 tháng đến dưới 1 năm.

c) Nhóm 3: Các khoản phải thu khác đã quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.

d) Nhóm 4: Các khoản phải thu khác đã quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.

đ) Nhóm 5: Các khoản phải thu khác đã quá hạn từ 3 năm trở lên, các khoản phải thu không có hạn thanh toán và đối tượng phải thu không có khả năng thanh toán."

Khi tính toán các tài sản rủi ro của một ngân hàng, các tài sản được phân thành các loại khác nhau dựa trên mức độ rủi ro và khả năng phát sinh một khoản lỗ. Thông tư 06/2016/TT-NHNN:

Mức độ rủi ro tài sản có nội bảng sẽ được phân chia theo hệ số rủi ro:

- Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 0%

  • Tiền mặt
  • Vàng
  • Tiền, vàng gửi tại ngân hàng nhà nước
  • Tiền gửi tại các ngân hàng chính sách
  • Giấy tờ có giá do Chính phủ Việt Nam, ngân hàng nhà nước phát hành hoặc bảo lãnh thanh toán, các khoản phải đòi đối với Chính phủ Việt Nam.
  • Các khoản phải đòi đối được Chính phủ Việt Nam bảo lãnh thanh toán, các khoản phải đòi được đảm bảo toàn bộ bằng giấy tờ có giá do Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước phát hành hoặc bảo lãnh thanh toán.
  • Các khoản phải đòi bằng đồng Việt Nam được bảo đảm toàn bộ bằng tiền, được bảo đảm toàn bộ bằng tiền, được đảm bảo đầy đủ về cả thời hạn và giá trị bằng (I) tiền gửi có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ; (II) sổ tiết kiệm bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, (III) giấy tờ có giá do chính tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành.
  • Các khoản phải đòi đối với Chính phủ rung ương, ngân hàng trung ương các nước thuộc OECD hoặc được chính phủ trung ương, ngân hàng trung ương các nước này bảo lãnh thanh toán.
  • Các khoản phải đòi được bảo đảm toàn bộ bằng giấy tờ có giá do Chính phủ trung ương, ngân hàng trung ương các nước thuộc OECD phát hành hoặc bảo lãnh thanh toán.
  • Các khoản phải đòi đối với các tổ chức tài chính quốc tế hoặc được các tổ chức này bảo lãnh thanh toán.
  • Các khoản phải đòi được bảo đảm toàn bộ bằng giấy tờ có giá do các tổ chức tài chính quốc tế phát hành hoặc bảo lãnh thanh toán.

-Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 20%

  • Kim loại quý (trừ vàng), đá quý
  • Các khoản phải đòi bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với tổ chức tài chính nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác ở trong nước.
  • Các khoản phải đòi bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ được bảo đảm toàn bộ bằng giấy tờ có giá do tổ chức tài chính nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành.
  • Trái phiếu do Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam phát hành.
  • Giấy tờ có giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phát hành.
  • Các khoản phải đòi đối với ngân hàng được thành lập ở các nước thuộc khối OECD và những khoản phải đòi được các ngân hàng này bảo lãnh thanh toán.
  • Các khoản phải đòi đối với các công ty chứng khoán được thành lập ở các nước thuộc khối OECD có tuân thủ những thoả thuận quản lý và giám sát về vốn trên cơ sở rủi ro và những khoản phải đòi được các công ty bảo lãnh thanh toán.
  • Các khoản phải đòi có thời hạn còn lại dưới 1 năm đối với các ngân hàng được thành lập ở các nước không thuộc khối OECD có tuân thủ những thoả thuận quản lý và giám sát về vốn trên cơ sở rủi ro và những khoản phải đòi được các công ty này bảo lãnh thanh toán.
  • Các khoản phải đòi bằng ngoại tệ được bảo đảm toàn bộ bằng tiền, được bảo đảm đầy đủ cả về thời hạn và giá trị bằng: (I) tiền gửi có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, (II) sổ tiết kiệm bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, (III) giấy tờ có giá do chính tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài pát hành.

- Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 50%

Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng toàn bộ bằng nhà ở (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai), quyền sử dụng đất, nhà ở gắn với quyền sử dụng đất của bên vay.

- Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 100%

  • Các khoản góp vốn, mua cổ phần, không bao gồm phần giá trị góp vốn, mua cổ phần đã bị trừ khỏi vốn cấp 1 để tính vốn tự có.
  • Giá trị nguyên giá các khoản đầu tư máy móc, thiết bị, tài sản cố định và bất động sản khác.
  • Toàn bộ tài sản Có khác còn lại trên bảng cân đối kế toán, ngoài các khoản phải đòi đã được phân loại vào nhóm hệ số rủi ro 0%, 20%,50%, 100%, 150%.

- Nhóm tài sản "Có"  có hệ số rủi ro 150%

  • Các khoản phải đòi đối với các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dung.
  • Các khoản phải đòi để đầu tư, kinh doanh chứng khoán.
  • Các khoản phải đòi đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ
  • Các khoản cho vay được đảm bảo bằng vàng.

- Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 200%

Các khoản phải đòi để kinh doanh bất động sản.

 

5. Phân biệt tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro

Về cơ bản ta thấy tài sản rủi ro được hiểu cơ bản là tài sản có dòng lợi tức trong tương lai không chắc chắn và ta đo lường sự không chắc chắn này bằng phương sai hoặc độ lệch của tỷ suất lợi tức kỳ vọng.

Tuy nhiên ngược lại vì tỷ suất lợi tức trên tài sản phi rủi ro là hoàn toàn chắc chắc, cũng chính vì thế độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức kỳ vọng của nó bằng 0 và tỷ suất lợi tức có được trên tài sản đó là tỷ suất lợi tức phi rủi ro (RP). Các chủ thể là những nhà nghiên cứu quan niệm tỷ suất lợi tức phi rủi ro là mức sinh lời (hay tỷ lệ tăng trưởng) kỳ vọng trong dài hạn của nền kinh tế đối với sự điều chỉnh tính thanh khoản trong ngắn hạn. Việc giả định về tài sản phi rủi ro trong nền kinh tế hiện nay thông thường sẽ có tính quyết định đến các lý thuyết định giá tài sản.

 

5.1. Lãi suất phi rủi ro thực

Lãi suất phi rủi ro thực là tỷ suất sinh lời cơ bản với giả thiết không có lạm phát và không có sự không chắc chắn của dòng thu nhập trong tương lai. Ở một nền kinh tế khi mà nền kinh tế đó không có lạm phát, các chủ thể là những nhà đầu tư biết chắc chắn số tiền mà các chủ thể đó sẽ nhận được vào một thời điểm nhất định căn cứ vào tỷ suất lợi tức phi rủi ro của hoạt động đầu tư hay còn gọi mức sinh lời này là giá trị thuần hay giá trị danh nghĩa của tiền tệ theo thời gian. Tỷ suất lợi tức phi rủi ro thực được xem là giá cả của sự trao đổi hàng hoá hiện tại và hàng hoá tương lai.

 Nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan xảy đến làm ảnh hưởng tới giá cả sự trao đổi này. Nhân tố chủ quan thể hiện thu nhập mong đợi theo thời gian của cá nhân trong việc tiêu dùng. Nhân tố khách quan ảnh hưởng đến lãi suất phi rủi ro đó chính là tập hợp các cơ hội đầu tư có sẵn trong nền kinh tế. Cơ hội đầu tư này được quyết định bởi tỷ lệ tăng trưởng thực tế dài hạn của nền kinh tế. Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh tạo ra các cơ hội tốt hơn cho hoạt động đầu tư và các mức lợi tức cao hơn. Trong trường hợp này nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức tỷ suất lợi tức cao hơn do sự tăng trưởng cao của nền kinh tế. Do đó, một mối quan hệ thuận chiều giữa tốc độ tăng trưởng thực tế của nền kinh tế và lãi suất phi rủi ro.

 

5.2. Lãi suất phi rủi ro danh nghĩa

Khi các chủ thể thảo luận về lãi suất, cần phân biệt giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa. Mục tiêu của thị trường vốn cụ thể đó là kết nối những người có vốn nhàn rỗi muốn được đầu tư để sinh lời với những công ty hoặc chính phủ, người cần vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh hoặc bù đắp thiếu hụt vốn lưu động. Chi phí vốn chính là giá cả mà tại đó cung - cầu vốn cân bằng nhau. Một sự thay đổi, cụ thể như sự nới lỏng hoặc thắt chặt tương đối của những điều kiện vay mượn trên thị trường vốn là hiện tượng xảy ra trong ngắn hạn do sự mất cân bằng tạm thời trong cung - cầu vốn. Sự mất cân bằng này thực chất dẫn đến sự thay đổi của lãi suất phi rủi ro danh nghĩa nhưng sự thay đổi này chỉ diễn ra trong ngắn hạn.

Ví dụ như việc giảm cung tiền sẽ làm giảm lượng vốn và tăng lãi suất. Lãi suất tăng lên cũng đã làm tăng tiết kiệm và giảm nhu cầu vốn của các công ty hay cá nhân. Sự thay đổi của các điều kiện trên thị trường này cũng sẽ mang lại sự cân bằng trong dài hạn.

Thực tế thấy rằng chỉ duy nhất chính phủ hoặc ngân hàng trung ương mới có thể phát hành chứng khoán phi rủi ro phục vụ cho việc điều hành chính sách tài khoá hoặc chính sách tiền tệ. Những công cụ thường gặp cụ thể đó là trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc hoặc tín phiếu ngân hàng trung ương. Tuy nhiên trong thực tế những loại chứng khoán được đảm bảo này cũng không phải là rủi ro hoàn toàn.

Trong dài hạn, tài sản phi rủi ro duy nhất là trái phiếu được điều chỉnh theo chỉ số giá. Tuy nhiên nhằm cho một trái phiếu được điều chỉnh theo chỉ số giá trở thành hoàn hảo thì kỳ hạn của trái phiếu trên thực tế cung sẽ cần phải đồng nhất với thời gian nắm giữ kỳ vọng của các chủ thể là những nhà đầu tư và mức lãi suất danh nghĩa trên trái phiếu cũng phải thay đổi linh hoạt theo tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế.

Trong ngắn hạn, tín phiếu ngân hàng trung ương, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng thương mại xem là những tài sản phi rủi ro. Với kỳ hạn ngắn, giá trị của chúng không thay đổi và ít nhạy cảm trước sự biến động của lãi suất. Rủi ro của những tài sản phi rủi ro nói trên chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với những tài sản khác như trái phiếu công ty dài hạn, cổ phiếu thường hoặc bất động sản. Chính vì vậy mà chúng ta xem những công cụ trên thị trường tiền tệ này như là những tài sản phi rủi ro có thể tiếp cận dễ dàng nhất đối với đa số chủ thể là những nhà đầu tư.

Trên đây là chia sẻ của Luật Minh Khuê về tài sản rủi ro, tài sản phi rủi ro. Hy vọng bài viết trên đã cung cấp cho quý bạn đọc những thông tin hữu ích,. Trân trọng cảm ơn.