1. Lý Công Uẩn là ai?

  • Lý Công Uẩn tên thật là Lý Thái Tổ. Là người đã sáng lập lên nhà Lý của nước Việt ta. Theo các tài liệu ghi chép thì Lý Công Uẩn là người thuộc làng Cổ Pháp. Hiện nay, làng đó thuộc tỉnh Bắc Ninh.
  • Ông sinh vào ngày 8/3/974, lên ngôi vào năm 1010 và mất vào ngày 31/3/1028. Lý Công Uẩn cai trị đất nước trong 19 năm, từ năm 1009 đến năm 1028.
  • Ông xuất thân từ một võ quan cao cấp của nhà Tiền Lê. Sau đó, vào năm 1009, ông được thiền sư Vạn Hạnh và lực lượng Đào Cam Lộc tôn lên làm hoàng đế sau khi vua Lê Long Đĩnh mất. Khi lên làm hoàng đế, ông lấy hiệu là Lý Thái Tổ.
  • Trong khoảng thời gian ông trị vì đất nước, Lý Công Uẩn đã dành phần lớn thời gian để dẹp loạn, củng cố lại triều đỉnh. Vào tháng 7 năm 1010, ông đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La sau khi đã dẹp loạn phiến quân. Ông đổi tên Đại La thành Thăng Long và đánh dấu son cho sự phát triển kéo dài 216 năm của nhà Lý

 

2. Tiểu sử vua Lý Công Uẩn

Lý Công Uẩn (974 - 1028) người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là Bắc Ninh), từ nhỏ ông là một cậu bé dĩnh ngộ hơn người, lại được sự nuôi dạy của hai nhà trí thức lớn đương thời là sư Lý Khánh Văn và Thiền sư Đạo Hạnh. Khi mới 20 tuổi Lý Công Uẩn được đưa vào triều làm một chức quan võ. Vốn là người thông minh, có sức khỏe và chí lớn, Công Uẩn từ đó ngày càng được tin cậy trong triều, về sau làm tới điện tiền chỉ uy sứ và trở thành trụ cột của nhà tiền lê.

Vì vậy ngay sau khi Lê Long Đĩnh mất, mọi triều thần đều nhận thấy Lý Công Uẩn là người khoan hòa, nhân thức và được lòng muôn dân nên cuộc chuyển giao triều đại từ họ Lê sang họ Lý đã diễn ra một cách hòa bình êm thấm. Lý Công Uẩn lên ngôi vương, triều Lý được thành lập, công lao đó thuộc về Thiền sư Đạo Hạnh cùng những bài kệ, sấm ký kỳ lạ của ông và sự hợp tác vận động ngầm trong triều của quan Chi Hậu Cam Mộc - một người rất mực trung hậu và quyết đoán trong triều.

Trong gần 20 năm làm vua (1010 - 1028), ngoài những công lao to lớn đối với nhà Lý trên phương diện kinh tế, văn hóa, củng cố tư thế độc lập tự chủ dân tộc, ông đã có một đóng góp nổi bật mang ý nghĩa lịch sử đó là công cuộc thiên đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, mở đầu cho một giai đoạn mới có ý nghĩa quyết định tới vận mệnh dân tộc của đất Thăng Long nói riêng và cả nước nói chung.

Nước Đại Cồ Việt đầu thế kỷ XI đã diễn ra một sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước phát triển quan trọng của quốc gia phong kiến độc lập. Đó là cuộc dời đô từ Hoa Lư về Đại La, Thăng Long - Đông Đô và là Hà Nội ngày nay. Sự kiện đó gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Lý Công Uẩn, vị vua sáng nghiệp triều Lý (1009 - 1225), một trong những triều đại hùng mạnh nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam.

Từ khi lên ngôi, Lý Công Uẩn đã thực thi nhiều chính sách cai trị nước mang tinh thần vị tha, bác ái và chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Phải chăng điều đó xuất phát từ nguồn gốc nhà chùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Phật giáo của ông, cũng như trong quyết định dời đô sáng suốt của ông có sự tham mưu của Lý Khánh Văn và Đạo Hạnh (lúc này đã là quốc sư).

Nước Đại Việt kể từ các triều đại vua Hùng đã diễn ra nhiều cuộc định đô và dời đô, mỗi lần như vậy hoặc là phản ánh yêu cầu khác nhau của từng giai đoạn lịch sử, hoặc là chọn vùng ảnh hưởng của người đứng đầu và thông thường là quê hương. Vì thế mới có đất Phong Châu của vua Hùng, Cổ Loa của Thục Phán, Mê Linh của Hai Bà Trưng, Hoa Lư của Đinh Bộ Lĩnh...nhưng đến Công Uẩn thì ông lại không chọn Bắc Ninh, mặc dù đó là quê gốc mà chọn Đại La. Điều đó chứng tỏ Lý Thái Tổ đã không chỉ có tầm nhìn chiến lược mà còn thấy rõ được vận hội quốc gia cùng xu thế đi lên của thời đại. Ông đã nhìn thấy được bệ đỡ cho chính quyền trung ương lúc này không còn là thành cao hào sâu nữa mà chính là kinh tế và quân đội, hai yếu tố đó cũng là động lực để phát triển một quốc gia hùng mạnh và thực tế đã đúng như vậy.

Cuộc chuyển đô lịch sử đã đồng thời mang lại nhiều hệ quả tích cực, chính quyền trung ương ở vào nơi trung tâm dất nước, với vị trí giao thông thuận lợi cả bộ lẫn thủy, đây là điều kiện cực kỳ thuận lợi để thâu tóm và chi phối các địa phương đồng thời phát huy được thế mạnh của cả vùng châu thổ sông Hồng. Chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh, tượng đồng Quỳnh Lâm, bốn vật được coi là tứ đại khí, chính là sản phẩm của giai đoạn này, giai đoạn mà công việc xây dựng và hưng thịnh đất nước bắt đầu bước vào quy mô lớn. Tiếp theo là hàng loạt các công trình khác cũng được các vua kế nghiệp nhà Lý phát huy: 1042 ban bộ hình thư, 1070 dựng Văn miếu, 1076 Quốc Tử Giám được thành lập, nền đại học Việt Nam bắt đầu hình thành Đặc biệt cuộc Nam Chinh, Bắc phạt dưới thời Lý thắng lợi đã chứng tỏ sự vững mạnh về kinh tế và quân sự của thời đại này.

Từ một sự lựa chọn sáng suốt của Lý Thái Tổ ở thế kỷ XI, Thăng Long - Hà Nội đã đi vào lịch sử đất nước như một thủ đô của muôn đời. Điều đó càng cho thấy giá trị trường tồn của chiếu dời đô mà nhà vua đã công bố cách đây ngót 1000 năm. Đối với lịch sử Việt Nam, chiếu dời đô của Lý Thái Tổ ngoài ý nghĩa là một tuyên cáo cho kỷ nguyên độc lập và phát triển lớn mạnh của dân tộc, nó còn là những phác thảo đầu tiên cho cả một hệ tư tưởng Lý. Ở đây với các yếu tố Phật, Nho, Đạo đã kết hợp nhuần nguyễn với các yếu tố tín ngưỡng và truyền thống dân tộc tạo nên áng thiên cổ hùng văn, để rồi tiếp nối sau đó là các áng văn hùng tráng như Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Cáo bình ngô và Tuyên ngôn độc lập đã làm thành một dòng văn hùng khí Thăng Long mà Lý Thái Tổ - vị vua khai nghiệp nhà Lý, đặt mốc Thăng Long đã khơi nguồn.

 

 3. Tại sao Lý Công Uẩn dời đô về Đại La (Thăng Long)?

  • Địa thế của Đại La rất thuận lợi về giao thông và phát triển đất nước lâu dài
  • Hoa Lư là vùng đất hẹp, nhiều núi đá, hạn chế sự phát triển lâu dài của đất nước.
  • Việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La thể hiện quyết định sáng suốt của vua Lý Công Uẩn, tạo đà cho sự phát triển đất nước.
  • Dời đô ra Thăng Long là một bước ngoặt rất lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc Đại Việt. Chúng ta không cần phải sống phòng thủ, phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để đối phó với quân thù. Chúng ta đã đủ lớn mạnh để lập đô ở nơi có thể đưa nước phát triển đi lên, đưa đất nước trở thành quố gia độc lập sánh vai với phương Bắc. Kinh đô Thăng Long quả là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời, là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời vậy.

 

4. Quá trình Lý Công Uẩn dời đô:

Thông tin về cuộc dời đô của vua Lý Công Uẩn:

  • Vào thời ngày xưa, các phương tiện di chuyển còn thô sơ, hệ thống giao thông đơn giản. Chính vì vậy việc dời đô thời đó là một việc hết sức quan trọng và khó khăn.
  • Theo các ghi chép và các nghiên cứu của các nhà sử học. Lý Công Uẩn dời kinh đô về thành Đại La bằng con đường thủy và đi vào thời điểm cuối hè.
  • Qua các nghiên cứu và các giả thuyết thì quá trình dời đô của Lý Công Uẩn phải đi qua khá nhiều các con sông. Ông bắt đầu đi từ bến Ghềnh Tháp, sau đó cho thuyền rẽ vào sông Sào Khê.

Quá trình dời đô:

  • Để có thể đến được bến đò Trường Yên và vào sông Hoàng Long. Thì đoàn thuyền của Lý Công Uẩn phải đi qua cầu Đông và cầu Dền ở Hoa Lư. Sau khi qua sông Hoàng Long thì ông rẽ vào Giám Khẩu. Sau rẽ tiếp vào sông Đáy. Qua sông Đáy là đến sông Châu Giang. Qua Châu Giang thì đoàn thuyền đi ngược sông Hồng để vào được sông Tô Lịch phía trước thành Đại La.
  • Qúa trình dời đô của Lý Công Uẩn đi qua tổng cộng 6 con sông. Trong đó, 3 sông Sào Khê, Hoàng Long, Châu Giang là đi xuôi dòng. Còn lại là đi ngược dòng.
  • Có nhiều người cũng thắc mắc tại sao Lý Công Uẩn không đi đường biển cho nhanh. Như các bạn cũng đã biết thì thời đó, các phương tiện đường biển rất thô sơ, đơn giản. Thêm cả việc tải nặng nữa thì khi qua biển, thuyền sẽ không chịu được các đợt sóng lớn.

Qua hơn 100 năm, thời gian và lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy. Quyết định dời đô của ông là rất sáng suốt, thông minh. Ngoài việc mở ra một triều địa phồn thịnh, hưng vượng mà ông còn đánh dấy các mốc lịch sử rất sáng suốt cho đến bây giờ.

Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Tại sao Lý Công Uẩn dời đô về Đại La? Hy vọng bài viết đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích. Xin chân thành cảm ơn!