Cần phải phân chia quá trình thực hiện tội phạm thành các giai đoạn vì:

Các giai đoạn thực hiện tội phạm: Là các bước của quá trình thực hiện tội phạm dưới hình thức lỗi cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.

Hoạt động phạm tội có thể diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài hoặc ngắn. Trong khoảng thời gian đó người phạm tội thực hiện dự định phạm tội của mình theo từng giai đoạn nhất định và luôn mong muốn thực hiện trọn vẹn quá trình phạm tội để đạt được mục đích đề ra, tuy nhiên thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy do những nguyên nhân ngoài ý muốn (nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan) mà người phạm tội đã không thể thực hiện được trọn vẹn toàn bộ quá trình phạm tội mà phải dừng lại ở những thời điểm khác nhau.

Chính vì vậy để đánh giá mức độ thực hiện tội phạm cũng như xác định rõ trách nhiệm hình sự của người phạm tội một cách chính xác khách quan, đảm bảo công bằng pháp chế trong pháp luật hình sự, Luật hình sự Việt Nam đã đề cập đến ba giai đoạn thực hiện tội phạm: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành được quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc quy định các giai đoạn thực hiện tội phạm là rất cần thiết giúp cho việc xác định đúng trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội. Làm sáng tỏ các giai đoạn thực hiện tội phạm cụ thể là chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn chặn tội phạm không để gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

- Căn cứ để xác định các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm:

+ Căn cứ vào yếu tố khách quan của tội phạm

Thứ nhất, căn cứ vào dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm để xem xét đánh giá một cách khách quan, toàn diện: Tính chất của hành vi đang thực hiện, nhằm xác định hành vi đó là hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm hay là hành vi phạm tội, hành vi đã được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm; thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, nhằm xem xét đánh giá hành vi khách quan mà người phạm tội đã thực hiện trongthực tế đang ở giai đoạn nào, ở giai đoạn phạm tội chưa đạt (chưa đạt, chưa hoàn thành; chưa đạt đã hoàn thành) hay ở giai đoạn tội phạm hoàn thành.

Như vậy, căn cứ vào dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội là căn cứ chủ yếu, quan trọng nhất để xác định các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.

Thứ hai, căn cứ dấu hiệu hậu quả tác hại của tội phạm đã gây ra cho xã hội. Đây cũng là căn cứ quan trọng để xem xét tội phạm mà người phạm tội thực hiện đã gây ra hậu quả tác hại cho xã hội hay chưa? Đối với loại tội phạm có cấu thành vật chất thì việc xem xét dấu hiệu hậu quả có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm. Nhưng đối với các tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức thì dấu hiệu hậu quả tác hại không có ý nghĩa trong việc xác định giai đoạn phạm tội.

+ Căn cứ vào tính chất, tầm quan trọng của khách thể mà tội phạm xâm phạm

Khi phân chia các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm, Luật hình sự không căn cứ vào yếu tố khách thể, bởi vì tội phạm nào cũng xâm phạm tới khách thể được luật hình sự bảo vệ. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều loại khách thể có tính chất và tầm quan trọng khác nhau, yêu cầu bảo vệ mỗi loại khách thể đó cũng khác nhau. Trong một số trường hợp để bảo vệ những quan hệ xã hội có vị trí, tầm quan trọngđặc biệt, Luật hình sự đã quy định nâng mức hoàn thành của tội phạm lên sớm hơn để phòng ngừa những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra cho xã hội. Có nghĩa là đối với những tội phạm này chỉ cần người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong điều luật (có dấu hiệu hành vi) mà không cần phải gây ra hậu quả tác hại cho xã hội thì tội phạm cũng được coi là hoàn thành (các tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức). Ví dụ: Tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội cưốp tài sản...