Vốn cổ phần của công ty, bao gồm cổ phiếu được phát hành với phần bù trên mệnh giá hay giá công bố, thể hiện tài sản vượt quá so với nợ phải trả, bao gồm cổ phiếu vốn. Thuật ngữ thường dùng là thặng dư vốn (capital surplus). Trong nghiệp vụ ngân hàng, có khác biệt nhỏ giữa vốn cổ phần và thặng dư vốn, vì số tiền đóng góp bởi cổ đông vượt trên mệnh giá cổ phiếu của họ, được tính như một phần của tài khoản vốn trong việc tính sự thích hợp về vốn và giá trị ròng của ngân hàng.
Tổng kiểm toán Tiền tệ yêu cầu các ngân hàng quốc gia có thặng dư 20% trên mục vốn góp vượt mệnh giá trước khi nhận được giấy phép. Cũng vậy, các ngân hàng quốc gia phải phân bổ ít nhất 10% lợi nhuận của sáu tháng trước đó vào tài khoản thặng dư, trước khi chi trả cổ tức cho cổ đông
Lợi nhuận ròng của công ty sau khi chi trả cổ tức. Cũng được gọi là thặng dư tạo được, lợi nhuận chưa phân phối hay lợi nhuận giữ lại.