Vào khoảng cuối năm 2013, Google xiết chặt dịch vụ, công ty nào còn nợ tiền quảng cáo thì sẽ bị dừng hoạt động quảng cáo, tức là tài khoản đăng ký quảng cáo với google sẽ bị khóa cho đến khi trả đủ nợ. Em xin giải thích một chút là để quảng cáo trên google thì chỉ cần có thẻ visa và đăng kí thông tin nhà quảng cáo với google là được. Mọi hoạt động trả tiền quảng cáo đều thông qua thẻ visa. Chính vì những lý do trên nên anh giám đốc công ty có nhờ em đi làm một thẻ visa đứng tên em và cho công ty mượn để đăng ký lại quảng cáo với google. Em đã đi làm thẻ và cho công ty mượn bởi vì anh giám đốc có đảm bảo là sẽ thanh toán đầy đủ cho bên google khi dùng bằng thẻ của em. Khi quảng cáo đã đi vào hoạt động ổn định thì em xin được việc làm ở công ty khác đúng với chuyên môn của em. Trước khi nghỉ việc em đã xin rút lại cái thẻ của em. Anh giám đốc đã đồng ý nhưng vì chưa chuyển được sang thẻ mới nên anh bảo khi nào chuyển xong thông tin quảng cáo sẽ đưa em sau. Sau một thời gian nghỉ việc em có gọi điện cho bạn em (hiện vẫn đang làm việc tại công ty)thì mới biết là đang chuyển thông tin quảng cáo sang thẻ của anh giám đốc nhưng chưa xong. Đến khoảng tháng 9/2014 em hỏi lại bạn em đã chuyển xong chưa thì bạn bảo là hiện tại còn một vài tài khoản vẫn chưa chuyển sang thẻ mới và thẻ của em cũng đang nợ tiền google khoảng 7 triệu và thẻ của anh giám đốc cũng nợ tiền google khoảng 20 triệu Vì không có tiền trả google nên anh giám đốc lại bỏ tài khoản này. Lúc này em mới gọi điện cho anh giám đốc và đã rút được thẻ về. Vì thông tin đăng ký là thẻ của em và số điện thoại của em, chỉ có tên người cần liên hệ là tên của anh giám đốc nên nhân viên google luôn gọi điện thoại cho em. Em xin hỏi là nếu công ty quảng cáo không trả tiền google đầy đủ thì google có thể kiện công ty không? Nếu công ty bị kiện thì em có bị liên can vì cho mượn thẻ ATM không ạ? Em rất mong Anh/Chị có thể trả lời giúp em ạ.

Em trân thành cảm ơn ạ.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê. 

Luật sư tư vấn dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 

Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 của Quốc hội

Nội dung tư vấn:

>> Xem thêm:  Séc là gì ? Khái niệm, cách hiểu về séc theo quy định pháp luật

Điều 11 Luật quảng cáo 2012 quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo như sau:

"Điều 11. Xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo

1. Tổ chức có hành vi vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

3. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo phải chịu trách nhiệm về quyết định xử lý của mình; trường hợp quyết định sai, gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định cụ thể về hành vi, hình thức và mức xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động quảng cáo."

Như vậy, khi vi phạm quy định của pháp luật về quảng cáo tùy vào tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Do đó nếu công ty quảng cáo không trả tiền Google và số nợ đã đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Google hoàn toàn có quyền kiện công ty quảng cáo để đòi nợ. Google có thể kiện công ty quảng cáo về hành vi sau:

Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 quy định:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục bảo lãnh người thân sang Singapore ? Tư vấn bảo lãnh vợ theo visa tại Nhật Bản ?

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quyền và các nghĩa vụ của các chủ thể thanh toán uỷ nhiệm chi

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này." 

Về việc bạn cho công ty quảng cáo mượn visa để đăng ký quảng cáo với Google, và nếu công ty không trả nợ quảng cáo cho Google thì bạn cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ vào quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự 1999 quy định:

"Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự."

Tuy nhiên, bạn lưu ý quy định tại Điều 20, Điều 21 và Điều 22 Bộ Luật hình sự như sau:

>> Xem thêm:  Sổ séc định mức là gì ? Các xử lý các lỗi phát sinh trong quá trình thanh toán séc

"Điều 20.  Đồng phạm 

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2.  Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm."

"Điều 21.  Che giấu tội phạm

Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định."

>> Xem thêm:  Điều khoản về giá tính bằng đô la Mỹ trong hợp đồng thuê nhà

"Điều 22.  Không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà , cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này."

Như vậy trong trường hợp này bạn biết rõ hành vi cho công ty mượn thẻ visa của bạn nhằm chiếm đoạt tài sản của Google, bạn biết hành vi này là phạm tội mà che giấu, không tố giác tội phạm thì bạn cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.

>> Xem thêm:  Mẫu Hợp đồng đặt cọc và biên bản giao nhận tiền đặt cọc mới nhất

>> Xem thêm:  Hướng dẫn vấn đề bảo lãnh đi nước ngoài ? Thủ tục bảo lãnh, cấp visa sang định cư ở nước ngoài ?