1. Thể chế kinh tế là gì?

Thể chế kinh tế trong tiếng Anh được gọi là Economic Institutions. Khái niệm về thể chế kinh tế được nhiều tác giả khác nhau tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau:

Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin (dành cho bậc đại học hệ chuyên lý luận chính trị) của Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra định nghĩa về Thể chế kinh tế: Là một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và quan hệ kinh tế; là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại bên cạnh các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế giáo dục... Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài về xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế.

Trình bày theo một cách khác, thể chế kinh tế còn được hiểu là toàn thể các luật chơi chính thức và phi chính thức điều tiết và chi phối các quan hệ, hoạt động mang tính kinh tế của con người trong xã hội. Nói cụ thể hơn thể chế kinh tế là: các bộ quy tắc, các luật, các lệ điều chỉnh, chế định các hành vi, các hoạt động, các quan hệ kinh tế; là bộ công cụ để điều chỉnh các chủ thể tham gia hành vi kinh tế. Vị trí, vai trò, chức năng, năng lực, các mối quan hệ và phương thức tổ chức vận hành của các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế (nhà nước, doanh nghiệp, người dân, các hiệp hội...); Cơ chế, cách thức, các luật lệ nhằm đạt được mục tiêu mà các chủ thể khi tham gia hành vi kinh tế mong muốn.

Nội hàm của thể chế kinh tế bao gồm những luật lệ quy định về các mối quan hệ và hoạt động kinh tế hiện hành và cả những tập tục, lề thói đã có từ ngàn đời, bao gồm các luật, lệ, quy tắc thành văn và cả những luật lệ, quy tắc bất thành văn trong các quan hệ và hoạt động kinh tế.

Thế chế kinh tế không phải là một thể chế biệt lập, tách bạch mà nằm trong một tổng thể hệ thống các thể chế (thể thế chính trị, văn hóa...) và có mối ràng buộc, tác động qua lại giữa các thể chế. Thể chế kinh tế là một trong các trụ cột quan trọng bảo đảm cho hệ thống chính trị ổn định và phát triển. Có thể nói, thể chế kinh tế là nền tảng bảo đảm cho các thể chế khác cùng tồn tại và phát triển cũng như là nền tảng bảo đảm cho hệ thống chính trị ổn định bởi nó là đối tượng tạo ra vật chất, quyết định sự tồn tại của các đối tượng khác. Thể chế kinh tế có thể hiểu là một trong ba chân kiềng quan trọng bậc nhất để hệ thống chính trị tồn tại trên đó. Mối quan hệ giữa thể chế kinh tế với hệ thống chính trị là mối quan hệ sống còn, phụ thuộc nhau. Hệ thống chính trị định hình ra thể chế kinh tế và ngược lại, thể chế kinh tế chống đỡ vững chắc cho hệ thống chính trị tồn tại.

2. Vai trò của thể chế kinh tế

Thứ nhất, thể chế kinh tế kiến tạo nền tảng kinh tế của quốc gia.

Thể chế xác lập và định hình khung khổ chung cho mọi hoạt động kinh tế, theo đó những nền tảng xã hội căn bản này vận hành hiệu quả hay không phụ thuộc quyết định bởi chất lượng và hiệu lực thể chế, hay nói cách khác đó là sự phù hợp của thể chế.

Thể chế kinh tế được coi là phù hợp cho một quốc gia bao gồm một hệ thống pháp luật đáng tin cậy, ghi nhận và bảo hộ các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế, một cơ chế giữ gìn công lý đáng tin cậy giúp giải quyết các tranh chấp cũng như một chính quyền minh bạch, đáng tin cậy, mọi hành vi can thiệp, điều tiết của Nhà nước tổ chức và vận hành xã hội, có tính tiên liệu và khả thi.

Bởi vậy, một quốc gia có nền tảng thể chế kinh tế tốt, có nghĩa là quốc gia sẽ có một môi trường ổn định để hoạt động của mọi chủ thế kinh tế được tiến hành một cách thuận lợi, thêm nữa, khi một quốc gia, vùng lãnh thổ xác lập được thể chế kinh tế hữu hiệu, tất yếu quốc gia, vùng lãnh thổ đó có được những công cụ hữu ích để chủ thể Nhà nước có thể điều tiết một cách có hiệu quả vận hành xã hội.

Thứ hai, thể chế kinh tế góp phần tạo ra những tiền đề điều kiện hạn chế những khuyết tật của tiến trình phát triển xã hội.

Mọi tiến trình phát triển xã hội dù ít hay nhiều đều chứa đựng những khuyết tật như những bất ổn kinh tế, thậm chí đó là những lệch lạc trong thực hiện mục tiêu xã hội đó là tiêu cực kinh tế; đó là những tổn hại môi trường bởi những “tham vọng lợi nhuận”… Những hạn chế, khuyết tật trong tiến trình phát triển xã hội được nêu trên hoàn toàn có thể khắc phục nếu có hệ thống thể chế kinh tế căn bản và khả thi.

Có hệ thống thể chế kinh tế căn bản và khả thi, có nghĩa là có một hệ thống pháp luật, chính sách tương đồng, tin cậy có tác động lan tỏa và có khả năng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế… với hệ thống thể chế ấy, tất yếu sẽ cung cấp cho chủ thể nhà nước những tiền đề, điều kiện cần thiết để hạn chế những khuyết tật trong tiến trình phát triển xã hội.

Thứ ba, thể chế kinh tế có vai trò kiểm soát các nguồn lực trong xã hội

Trong nhiều nghiên cứu mang tính dẫn đầu về phân tích ảnh hưởng của thể chế, nghiên cứu thảo luận mối quan hệ giữa thể chế kinh tế và chính trị trong mối quan tâm tới việc tiệm cận các nguồn lực trong xã hội đã minh chứng rằng các nhóm lợi ích khác nhau sẽ hưởng lợi khác nhau từ các thể chế kinh tế, từ đó họ thiết kế ra các thể chế chính trị phù hợp để bảo vệ quyền lực kinh tế thực tế của nhóm có quyền kiểm soát nguồn lực trong quốc gia. Nếu quyền lực chính trị bị giới hạn trong một nhóm nhỏ, các thể chế kinh tế, ví dụ quyền sở hữu có thể bị thao túng. Ngược lại, nếu quyền lực chính trị có sự tham gia rộng rãi của người dân thì các thể chế kinh tế sẽ mang lại phúc lợi cho số đông.

Nghiên cứu này cũng chứng minh rằng các thể chế kinh tế không được lựa chọn ngẫu nhiên, mà vì hiệu quả phân phối phúc lợi của nó. Vì gốc rễ của vấn đề là phân phối nguồn lực, cho nên một quốc gia muốn trở nên giàu có phải bắt đầu từ những cải cách thể chế, nhất là thể chế chính trị, đảm bảo quyền tự do của người dân được tiệm cận hoặc giám sát các nguồn lực trong xã hội. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, xét đến cùng bản chất của thể chế là nhằm kiểm soát các nguồn lực.

Thứ tư, thể chế đảm bảo các chủ thể kinh tế thực hiện được các quyền và nghĩa vụ

Với tư cách là một hệ thống các công cụ quản lý và điều tiết vận hành quan hệ, hoạt động mang tính kinh tế, thể chế kinh tế sẽ tạo cơ chế để các chủ thể kinh tế vừa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Thực tế phát triển ở nhiều quốc gia cho thấy, một thể chế kinh tế thiếu chú trọng đến việc khuyến khích các chủ thể phát huy các quyền của mình để đóng góp cho phát triển xã hội và đảm bảo các nhu cầu chính đáng của bản thân, trong khi lại chú trọng đến việc đòi hỏi họ thực hiện quá nhiều nghĩa vụ, thì chắc sẽ đi đến triệt tiêu động lực phát triển. Bởi vậy, bất kể một quốc gia nào thể chế kinh tế cũng cần đảm bảo để các chủ thể kinh tế được thực hiện quyền và nghĩa vụ chính đáng của mình.

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Thể chế kinh tế là gì? Vai trò của thể chế kinh tế. Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 19006162'>1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.