- 1. Thế nào là bảo hiểm nông nghiệp?
- 2. Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp
- 3. Thế nào là đồng bảo hiểm nông nghiệp?
- 4. Bảo hiểm nông nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới
- 4.1. Bảo hiểm nông nghiệp ở Mỹ
- 4.2. Bảo hiểm nông nghiệp ở Trung Quốc
- 4.3. Bảo hiểm nông nghiệp ở Nhật Bản
- 4.4. Bảo hiểm nông nghiệp ở Tây Ban Nha
- 4.5. Bảo hiểm nông nghiệp ở Ấn Độ
- 4.6. Bảo hiểm nông nghiệp ở Brazil
- 4.7. Bảo hiểm nông nghiệp ở Malaysia
1. Thế nào là bảo hiểm nông nghiệp?
Bảo hiểm nông nghiệp là loại hình bảo hiểm cho đối tượng sản xuất trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
2. Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp
Điều 4 Nghị định 58/2018/NĐ-CP quy định bảo hiểm nông nghiệp gồm các loại hình sau:
- Bảo hiểm đối với rủi ro định danh, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho tổn thất thực tế do các rủi ro được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp gây ra.
- Bảo hiểm mọi rủi ro, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho tổn thất thực tế do mọi rủi ro gây ra, trừ các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.
- Bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường chi phí sản xuất nông nghiệp để bù đắp cho tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm gây ra theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.
- Bảo hiểm theo chỉ số năng suất, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo mức sụt giảm năng suất thực tế của một khu vực địa lý (huyện, xã,...) theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.
- Bảo hiểm theo chỉ số thời tiết, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo biến động của chỉ số thời tiết (mưa, gió, hạn hán, ngập lụt, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần...) theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.
- Bảo hiểm theo chỉ số viễn thám, theo đó khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo sự biến động của chỉ số viễn thám theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.
- Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp khác theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.
3. Thế nào là đồng bảo hiểm nông nghiệp?
Khoản 4 Điều 3 Nghị định 58/2018/NĐ-CP quy định:
Đồng bảo hiểm nông nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm cùng tham gia giao kết hợp đồng bảo hiểm với bên mua bảo hiểm để bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm nông nghiệp với cùng quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm.
Nghị định 58/2018/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 7. Đồng bảo hiểm nông nghiệp
1. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thực hiện bảo hiểm nông nghiệp theo phương thức đồng bảo hiểm nhằm phân tán, chia sẻ rủi ro, đảm bảo an toàn tài chính, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh.
2. Trường hợp thực hiện đồng bảo hiểm nông nghiệp:
a) Hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp phải ghi rõ tên và tỷ lệ đồng bảo hiểm của từng doanh nghiệp bảo hiểm tham gia đồng bảo hiểm; tên doanh nghiệp bảo hiểm giữ vai trò đầu mối thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm phải cùng chịu trách nhiệm về những cam kết trong hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp với bên mua bảo hiểm.
b) Doanh nghiệp bảo hiểm giữ vai trò đầu mối có trách nhiệm thực hiện các thủ tục liên quan đến việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và thay mặt các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia đồng bảo hiểm khác giải quyết các công việc phát sinh liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp.
4. Bảo hiểm nông nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới
4.1. Bảo hiểm nông nghiệp ở Mỹ
Bảo hiểm cây trồng liên bang lần đầu tiên được Quốc hội Mỹ cho phép vào những năm 1930. Đạo luật Bảo hiểm cây trồng liên bang năm 1980 đã mở rộng bảo hiểm cho nhiều loại cây trồng và vùng khác.
Theo thống kê, chương trình bảo hiểm cây trồng liên bang của Mỹ hiện áp dụng cho hơn 100 loại cây trồng, bảo hiểm mọi rủi ro với doanh thu khoảng 5 tỷ USD/năm. Chính phủ hỗ trợ cho BHNN bằng nhiều cách: cung cấp các khoản trợ cấp bảo hiểm (cho cây trồng một tỷ lệ phí khoảng từ 48% đến 67%, tỷ lệ bảo hiểm vật nuôi khoảng 13%), cung cấp miễn phí hợp đồng bảo hiểm năng suất thiên tai cơ bản cho toàn bộ diện tích cây trồng. Mức bồi thường của hợp đồng cơ bản này là phần tổn thất vượt quá 50% năng suất bình quân của 4 năm trước năm bị tổn thất và tỷ lệ bồi thường chỉ bằng 60% giá trị thị trường dự tính. Ngoài việc hưởng miễn phí theo hợp đồng bảo hiểm năng suất thiên tai cơ bản nói trên, nông dân có thể mua thêm mức trách nhiệm cao, với mức phí có trợ cấp 38% từ chính phủ.
4.2. Bảo hiểm nông nghiệp ở Trung Quốc
Từ năm 2007, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện chính sách BHNN. Với vị trí hiện nay là nước xếp vị trí thứ 2 trên thế giới về thực hiện chính sách BHNN, Trung Quốc đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2022 sẽ xây dựng thành công hệ thống BHNN đa tầng, phù hợp với giai đoạn hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; đáp ứng nhu cầu bảo hiểm rủi ro của người nông dân. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm đối với ba loại lương thực chủ yếu là lúa nước, lúa mì và ngô sẽ đạt trên 70%; mật độ BHNN (chi phí bảo hiểm/số người làm nông nghiệp) đạt 500 nhân dân tệ/người. Trong đó, bảo hiểm thu nhập cho người nông dân được chú trọng phát triển, trở thành một loại hình quan trọng trong BHNN.
Quá trình thực hiện chương trình BHNN ở Trung Quốc có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa trung ương và các địa phương, đảm bảo nguyên tắc chính phủ hướng dẫn, thị trường vận hành, tự chủ tự nguyện, phối hợp hiệp đồng cùng phát triển. Nhà nước khuyến khích phát triển đa dạng các loại hình BHNN. Tuy nhiên, chính quyền các địa phương không tham gia hoạt động kinh doanh cụ thể về BHNN, mà trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ về phát triển sản phẩm, định giá, hoạt động bảo lãnh của đơn vị bảo hiểm để điều tiết tính tích cực của chủ thể thị trường và thực hiện trợ giúp về nghiệp vụ bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Chính quyền từ cấp huyện trở lên chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức và điều phối công tác BHNN trong khu vực địa phương quản lý. Chính quyền cấp tỉnh, địa khu và thành phố trực thuộc có thể xác định mô hình kinh doanh BHNN phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của địa phương mình.
4.3. Bảo hiểm nông nghiệp ở Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản cung cấp khoảng 50% trợ cấp phí bảo hiểm. Ngoài ra, Tokyo đóng vai trò là nhà tái bảo hiểm cuối cùng cho toàn bộ chương trình BHNN. Theo ước tính từ Cục Cải thiện quản lý của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản, trong giai đoạn từ 1990-2005, chính phủ Nhật Bản đã chi trung bình 640 triệu USD/năm để trợ cấp 50% chi phí phí cứu trợ lẫn nhau trong nông nghiệp. Các loại BHNN ở Nhật Bản được phân loại thành các chương trình quốc gia và không bắt buộc. Các đặc điểm chính của BHNN ở Nhật Bản có thể được tóm tắt trong năm điểm chính. Đầu tiên, chính phủ tái bảo hiểm cho các dự án của chương trình ngoại trừ bảo hiểm nhà ở cho người nông dân. Thứ hai, việc thực hiện các dự án là bắt buộc đối với các hiệp hội sản xuất gạo, lúa mì, lúa mạch, chăn nuôi. Thứ ba, bảo hiểm lúa, lúa mì và lúa mạch là bắt buộc. Thứ tư, chính phủ trả một phần phí bảo hiểm mà người nông dân bỏ ra. Và cuối cùng, chính phủ chịu một phần chi phí hoạt động của các tổ chức, công ty BHNN.
4.4. Bảo hiểm nông nghiệp ở Tây Ban Nha
Tây Ban Nha có chương trình bảo hiểm quốc gia, thực hiện bởi Agroseguro - tập hợp các công ty bảo hiểm tư nhân hoạt động trong lĩnh vực BHNN theo cơ chế chia sẻ rủi ro của bảo hiểm tương hỗ, dưới sự bảo trợ của nhà nước. Bảo hiểm sẽ bao trùm mọi hiểm hoạ cho cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Nhà nước chịu 41%, nông dân chịu 59%. Chính quyền Madrid khuyến khích BHNN bằng cách không cứu trợ người nông dân khi tổn thất xảy ra do các rủi ro nằm trong chương trình bảo hiểm. Đối với tổn thất do các loại rủi ro không có trong chương trình bảo hiểm gây ra, có thể người nông dân sẽ được xem xét hỗ trợ, tuy nhiên, chỉ hỗ trợ khi họ đã mua bảo hiểm cho các rủi ro đã có trong chương trình bảo hiểm.
4.5. Bảo hiểm nông nghiệp ở Ấn Độ
Chương trình BHNN của Ấn Độ đã được triển khai ngay sau khi nước này giành độc lập năm 1947. Vào tháng 9-2010, Chính phủ Ấn Độ đã phê duyệt Chương trình BHNN quốc gia (mNAIS) sửa đổi, chuyển từ chương trình bảo hiểm cây trồng với sự tài trợ đột xuất từ chính phủ sang chương trình bảo hiểm cây trồng dựa trên thị trường với mức phí bảo hiểm tính toán hợp lý. Theo tính toán, nó có thể được mở rộng cho 110 triệu hộ nông dân của Ấn Độ. Bên cạnh đó, một hình thức BHNN nữa của Ấn Độ là dựa theo lượng mưa. Nông dân được đền bù nếu lượng nước mưa trong mùa mưa nhỏ hơn 95% so với dự báo. Mực nước mưa tham khảo là bình quân lượng nước mưa của từng giai đoạn 10 ngày trong mùa vụ của cây trồng. Hiện đã có nhiều công ty triển khai và WB đánh giá đây là mô hình thành công.
4.6. Bảo hiểm nông nghiệp ở Brazil
Ở Brazil, bảo hiểm chi phí sản xuất nông nghiệp đã được thử nghiệm vào những năm 1970, được dựa trên chi phí sản xuất và việc thanh toán bồi thường phụ thuộc vào tỷ lệ hao hụt. Chương trình bảo hiểm này được thử nghiệm ở các bang Sao Paulo và Minas Gerais, nơi việc tham gia là bắt buộc đối với nông dân trồng bông ở Sao Paulo nhưng tự nguyện đối với các loại cây trồng khác. Một chương trình bảo hiểm tín dụng (viết tắt là PROAGRO) cũng được triển khai, trong đó BHNN là một yêu cầu cần có để tiếp cận tín dụng chính thức và phạm vi bảo hiểm dựa trên số tiền tín dụng của nông dân. Một sản phẩm sáng tạo hơn được thí điểm vào năm 2010 tại bang Parana là bảo hiểm thu nhập nông nghiệp. Theo báo cáo của Swiss Re Group, nhà cung cấp bán buôn hàng đầu về tái bảo hiểm của Thụy Sĩ, BHNN và các hình thức chuyển rủi ro dựa trên bảo hiểm khác của Brazil được đánh giá là rất tốt.
4.7. Bảo hiểm nông nghiệp ở Malaysia
Ngược lại, BHNN là lĩnh vực mới ở Malaysia. Kể từ những năm 1980, đã có một số bảo hiểm thương mại tư nhân hạn chế đối với các loại cây trồng xuất khẩu từ rừng trồng bao gồm cao su, cọ dầu, dừa, trái cây và ca cao. Những cây trồng này đã được bảo hiểm theo chính sách cháy rừng/rừng trồng với những rủi ro bổ sung. Năm 2002, Hiệp hội Bảo hiểm quốc gia Malaysia (NIAM) được chính phủ mời thành lập chương trình BHNN quốc gia. Cho đến năm 2008, không có bảo hiểm gia súc hoặc gia cầm chính thức ở Malaysia. Malaysia đã phải chịu thiệt hại do thảm họa (không có bảo hiểm) ở lợn bởi đợt bùng phát virus Nipah 1998-1999. Vì vậy, ngày 31-1-2008, Ngân hàng Negara của Malaysia đã phê duyệt việc hình thành chương trình bảo hiểm gia cầm và gia súc, được quản lý bởi công ty tái bảo hiểm Malaysia Re. Trong năm 2009, các cây trồng (cao su, cọ dầu...) đã được bảo hiểm theo chính sách cháy rừng/rừng trồng nhằm bảo vệ chống lại sự mất mát tài sản do hỏa hoạn cộng với các nguy cơ lũ lụt, gió bão, và đôi khi thiệt hại do động vật (ví dụ như bị voi hoang dã phá hoại).
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)