NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Thi hành án treo:

1.1 Đặc điểm chung:

Đặc trưng lớn nhất của thi hành án treo là người bị kết án được giám sát, giáo dục trong môi trường bình thường, quen thuộc tại cơ quan, tổ chức hoặc địa phương nơi người bị kết án học tập, công tác, cư trú trước khi phạm tội với một chế độ chấp hành án do Chính phủ quy định.

Trách nhiệm chính trong giám sát, giáo dục người bị kết án là cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương và gia đình. Điều này đòi hỏi sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức và gia đình trong việc thi hành án của người bị kết án.

1.2 Thực tiễn áp dụng:

Thực tiễn cho thấy hàng năm có khoảng từ 20% - 25% bị cáo bị kết án phạt tù cho hưởng án treo. Theo khoản 2 Điều 227 và Điều 234 BLTTHS thì người được hưởng án treo được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc để theo dõi, giám sát việc cải tạo. Theo Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 thì chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức phải cử người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kêt án; người bị kết án được cấp sổ theo dõi án treo và định kỳ phải báo cáo kết quả giáo dục, cải tạo...

Tuy nhiên, việc các văn bản pháp luật nêu trên không quy định cụ thể ai trong chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức là người chịu trách nhiệm thi hành án treo làm nảy sinh rất nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến việc thi hành án treo: chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức không biết phân công cho tư pháp phường hay công an chịu trách nhiệm chính trong thực hiện nhiệm vụ này nên xảy ra tình trạng không ai làm hoặc đùn đẩy cho nhau; Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn không thể phối hợp với cơ quan, đoàn thể, gia đình trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án; việc quản lý thi hành án treo nhiều địa phương hầu như bị thả nổi. Người bị kết án treo rất ít bị nhắc nhỗ khi có vi phạm chế độ thi hành án treo; không được biểu dương kịp thời khi cải tạo tiến bộ; rất ít người bị kết án treo được chính quyền xã, phường, thị trấn đề nghị xét giảm thời gian thử thách, về phía công an xã, phường, thị trấn, việc quản lý người bị kết án treo trên địa bàn chỉ dựa vào công tác quản lý nhân khẩu, hộ tịch, quản lý trật tự hành chính; nhiều nơi công an không nắm được các trường hợp chuyển nơi cư trú, chuyển công việc của người bị kết án để đề nghị Tòa án giao người đó cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức mới giám sát, giáo dục.

Một vấn đề nữa ảnh hưởng tiêu cực tối hiệu quả thi hành án treo là sự phối hợp giữa chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú với cơ quan, tô chức nơi người đó lao động, học tập. Trên thực tế bao giờ người phạm tội làm việc, học tập ỏ cơ quan, tô chức thì đồng thời cũng cư trú ở một địa phương nhất định. Trong trưòng hợp này, Tòa án rất khó khăn trong việc quyết định giao người bị kết án cho ai giám sát, giáo dục: cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hay cho cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập giám sát, giáo dục. Vấn đề nữa là khi Tòa án đã giao thì việc phối hợp giữa chính quyền xã, phường, thị trấn với cơ quan, tổ chức như thê nào thì cũng chưa được quy định rõ ràng.

Về phía Tòa án thì sau khi xét xử có nhiều trường hợp không gửi đầy đủ bản sao bản án, quyết định thi hành án cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục để họ thực hiện nhiệm vụ của mình. Nhiều Tòa án cũng còn thực hiện trách nhiệm theo dõi thi hành án treo chưa tốt. Hoạt động kiểm sát thi hành án treo của Viện kiểm sát cũng chưa được thực hiện thường xuyên, nếu không nói là bị thả nổi.

Toàn bộ các yếu tố bất cập, hạn chế nêu trên đã dẫn đến kết quả thi hành án treo chưa tốt. Tỷ lệ tái phạm của người bị kết án treo vẫn còn cao. Kết quả đó làm hạn chế hiệu quả của biện pháp án treo như là biện pháp trách nhiệm hình sự không phải tù được coi là rất quan trọng trong BLHS nước ta thời gian qua.

2. Thi hành hình phạt trục xuất:

Điều 32 BLHS quy định: “Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thế".

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta, hệ thống hình phạt về hình sự ghi nhận thêm một loại hình phạt mới, một hình phạt mà pháp luật hình sự của một số nước khác đã có một bề dày kinh nghiệm áp dụng.

Việc đưa hình phạt trục xuất vào hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam không những đánh dấu một vị thế mối của đất nước ta trên trường quốc tế, mà còn thể hiện sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tế đấu tranh với tình hình tội phạm hiện nay và trong thời gian tới, khi mà chủ trương mỏ rộng giao lưu và hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta được thực hiện ngày càng mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Số lượng người nước ngoài ở nước ta ngày càng nhiều. Vì thế, sự vi phạm pháp luật của một số người nước ngoài nhất định là không tránh khỏi và thực tế đã có những người nước ngoài phạm các tội về ma túy, tội buôn lậu, lừa đảo... trên đất nước ta. Hiến pháp hiện hành của Nhà nước ta quy định tại Điều 81: “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam”.

Vậy, khi người nước ngoài phạm tội trên đất nước ta, họ cũng phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo BLHS của Nhà nước ta. Tuy nhiên, người nước ngoài là một chủ thể đặc biệt, cho nên hình phạt trục xuất được BLHS quy định là một hình phạt đặc thù đối với người nước ngoài, tức là hình phạt này chỉ dành để áp dụng đối với người phạm tội là người nước ngoài, chứ không áp dụng đối với người phạm tội là công dân Việt Nam hay người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

Tuy BLHS không quy định rõ thế nào là người nước ngoài, song trên cơ sở của những quy định tại các điều 5, 6, 26 và Điều 32 thì người nước ngoài ở đây phải là người có quốc tịch, nhưng không phải quốc tịch Việt Nam và cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Việc cư trú ỏ Việt Nam đối với họ phải là quyền và lợi ích. Nếu không việc trục xuất cũng không có ý nghĩa gì là một hình phạt. Người nước ngoài bị áp dụng hình phạt trục xuất cũng không thể là những đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 5 và khoản 2 Điều 6 BLHS .

Vì mức độ điều chỉnh cũng như phương thức điều chỉnh bằng hình phạt trục xuất không giông như các hình phạt bổ sung khác trong BLHS , tức là chỉ quy định ở mức độ chung, không có quy định ở mức độ cụ thể và trực tiếp, cho nên khi áp dụng, cần phải cân nhắc kỹ hơn trên cơ sở các điều 26, 27, 28 và Điều 32 BLHS và kể cả Điều 234a BLT- THS. Theo đó, trục xuất có thể là hình phạt bổ sung cho tất cả các hình phạt chính, chỉ trừ hình phạt tử hình và tù chung thân.

3. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tái hòa nhập cộng đồng:

Nhận rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác tái hòa nhập cộng đồng đôi với những người đã chấp hành xong hình phạt, trong thời gian gần đây, Đảng ta đã đề cập vấn đề này một cách chính thức trong các văn kiện của mình. Ngay trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã nêu rõ: đối xử nhân đạo với người bị phạt tù, có chương trình dạy nghề cho phạm nhân và giói thiệu việc làm cho họ sau khi ra tù, giúp họ nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng. Chỉ thị số 53/CT-TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị khẳng định chủ trương nói trên đã nhấn mạnh đến yêu cầu cần kết hợp và phát huy vai trò của các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người đã chấp hành xonh hình phạt tái hòa nhập cộng đồng.

Những chủ trương của Đảng đã từng bước được thể chế hóa thành các chính sách, thành các quy định của pháp luật. Một trong những nguyên tắc cơ bản về xử lý tội phạm trong chính sách hình sự của Nhà nước ta được nêu ra tại Điều 3 BLHS là: người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích. Và nhiều quy định liên quan đến công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ nhừng người đã chấp hành xong hình phạt đã được quy định trong nhiều văn bản luật và được cụ thể hóa qua các văn bản dưới luật. Theo tinh thần của các quy định đó, các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng được áp dụng ở giai đoạn chấp hành hình phạt tù là: lao động, giáo dục văn hóa, pháp luật, dạy nghề, xét giảm án phạt tù, đặc xá, chữa bệnh, trao trả người được ra tù về địa phương... Các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng được áp dụng ở giai đoạn chấp hành xong hình phạt là: tiếp nhận các đối tượng đã chấp hành xong hình phạt khi họ trở về nơi cư trú, dạy nghề, lao động hướng nghiệp, dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, hỗ trợ tìm việc làm hoặc bố trí việc làm cho các đốĩ tượng...

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác tái hòa nhập cộng đồng một mặt xác định phương hướng, đường lôì và các biện pháp, hình thức thực hiện việc tái hòa nhập cộng đồng, mặt khác, xác định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhà trường và gia đình trong công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người được tha tù, hết hạn tù tái hòa nhập cộng đồng.

Đối với các cấp chính quyền địa phương, Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 về tăng cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới đã quy định Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương; có chương trình, kế hoạch, biện pháp cụ thể chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện tốt Nghị quyết về Chương trình quốc gia phòng chông tội phạm; Điều 33 Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 đã quy định trách nhiệm của chính quyền cơ sở, nơi người được ra tù về cư trú có trách nhiệm cùng với tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và gia đình giúp đỡ người đó tạo lập cuộc sống bình thường và thi hành hình phạt bổ sung, nếu bản án đối với họ có tuyên hình phạt này; chính quyền cơ sở còn có trách nhiệm quản lý, giám sát những người bị quản chế hình sự cư trú trên địa bàn địa phương mình. Việc quản lý, giám sát những người bị quản chế hình sự có tác dụng ngăn chặn khả năng tái phạm tội của người được ra tù, đồng thời giúp đỡ, giáo dục họ vượt qua giai đoạn thử thách do pháp luật quy định.

Đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhà trường và gia đình đối với những người được ra tù Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ về tăng cường công tác đấu tranh chông tội phạm trong tình hình mới đã quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người được ra tù tái hòa nhập cộng đồng. Cụ thể là: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm hỗ trơ giải quyết việc làm cho các đối tượng đã mãn hạn tù, giúp họ tại hòa nhập cộng đồng; Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các ngành liên quan tổ chức tuyến truyền, giáo dục pháp luật, mở chuyên mục giáo dục pháp luật thưòng xuyên trên sóng phát thanh và truyền hình; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, Bộ Công an, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các bộ, ngành khác tổ chức vận động toàn dân tham gia quản lý, giáo dục người vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư; tổ chức hướng nghiệp, giúp đõ tạo việc làm, lôi cuốn họ, cải tạo họ thành người lương thiện, tái hòa nhập cộng đồng; phát động các tổ chức đoàn thể xã hội như thanh niên, phụ nữ, mặt trận, gia đình bảo lãnh, cam kết giáo dục thanh niên hư, chậm tiến. Tổ chức quản lý số đối tượng bị quản chế, cấm cư trú, cải tạo không giam giữ, bị kết án tù nhưng cho hưởng án treo không để họ tái phạm; gia đình được coi là một cầu nối quan trọng nhất để người đã chấp hành xong hình phạt tù hòa nhập với cộng đồng sau một thời gian bị cách ly khỏi xã hội.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê