1. Các trường hợp chuyển tuyến chữa bệnh
Điều 5 của Thông tư 14/2014/TT-BYT quy định các trường hợp mà bệnh viện có thể chuyển tuyến bệnh nhân từ tuyến dưới lên tuyến trên, từ tuyến trên xuống tuyến dưới hoặc giữa các cơ sở khám, chữa bệnh cùng tuyến. Dưới đây là phân tích chi tiết về từng trường hợp được quy định:
Chuyển tuyến từ tuyến dưới lên tuyến trên:
Bệnh viện tuyến dưới có thể chuyển người bệnh lên bệnh viện tuyến trên khi:
Bệnh của người bệnh không phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị của bệnh viện tuyến dưới.
Bệnh của người bệnh phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị của bệnh viện tuyến dưới nhưng do điều kiện khách quan, bệnh viện tuyến dưới không đủ điều kiện để chẩn đoán và điều trị.
Bệnh viện tuyến trên liền kề không có dịch vụ kỹ thuật phù hợp, nên người bệnh từ tuyến dưới sẽ được chuyển lên tuyến trên.
Chuyển tuyến từ tuyến trên xuống tuyến dưới:
Bệnh viện tuyến trên có thể chuyển người bệnh xuống bệnh viện tuyến dưới khi:
Người bệnh đã qua giai đoạn cấp cứu và tình trạng bệnh đã thuyên giảm.
Bệnh viện tuyến dưới có đủ điều kiện để tiếp tục điều trị cho người bệnh.
Chuyển tuyến giữa các cơ sở khám, chữa bệnh cùng tuyến:
Cơ sở khám, chữa bệnh cùng tuyến có thể chuyển người bệnh cho nhau khi:
Bệnh của người bệnh không phù hợp với danh mục kỹ thuật của cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu.
Bệnh của người bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu, nhưng do điều kiện khách quan, cơ sở đó không đủ điều kiện chẩn đoán và điều trị.
Cơ sở khám, chữa bệnh cùng tuyến đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về y tế phê duyệt.
Chuyển tuyến giữa các cơ sở khám, chữa bệnh trên các địa bàn giáp ranh:
Giám đốc Sở Y tế hướng dẫn cụ thể việc chuyển tuyến giữa các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản lý.
Giám đốc các Sở Y tế thống nhất, phối hợp hướng dẫn cụ thể việc chuyển tuyến giữa các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản lý.
Kết luận, Giấy chuyển tuyến là một công cụ pháp luật quan trọng để điều hướng và quản lý quá trình chăm sóc sức khỏe của người bệnh, đảm bảo người bệnh được đưa đến các cơ sở khám, chữa bệnh phù hợp và có khả năng chẩn đoán, điều trị tốt nhất.
Xem thêm bài viết tham khảo sau>>> Đúng tuyến, trái tuyến, vượt tuyến, thông tuyến trong Bảo hiểm y tế là gì?
2. Thời hạn sử dụng giấy chuyển tuyến đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế
Sử dụng Giấy chuyển tuyến:
Giấy chuyển tuyến được sử dụng đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế trong các tình huống sau:
Người bệnh được chuyển đến một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác: chỉ cần có Giấy chuyển tuyến của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu nơi người bệnh đang điều trị.
Người bệnh đến một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu không phải là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và sau đó được chuyển tiếp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác: chỉ cần có Giấy chuyển tuyến của cơ sở khám bệnh ban đầu nơi người bệnh đang điều trị.
Giấy chuyển tuyến có thời hạn sử dụng là 10 ngày làm việc, tính từ ngày ký.
Giấy chuyển tuyến cho các trường hợp đặc biệt:
Đối với những người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế mắc các bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp được quy định tại Phụ lục số 01 kèm theo Thông tư này: Giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch đó.
Trong trường hợp người bệnh vẫn đang điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vào ngày 31 tháng 12 của năm đó, giấy chuyển tuyến sẽ có giá trị sử dụng đến hết đợt điều trị nội trú đó.
Thay đổi quy định:
Điểm c của khoản 1 đã bị bãi bỏ bởi điểm đ khoản 2 Điều 41 Nghị định 146/2018/NĐ-CP.
Mẫu giấy chuyển tuyến không còn nội dung cụ thể về thời hạn sử dụng.
Trong trường hợp: Người có thẻ BHYT mắc các bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp được sử dụng Giấy chuyển tuyến quy định tại Phụ lục số 01 Thông tư 40/2015/TT-BYT: Theo đó, mắc một trong các bệnh trong phụ lục thì Giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng đến hết ngày 31/12 năm dương lịch đó
Chuyển viện trong các trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn kỹ thuật:
Theo quy định của Luật bảo hiểm y tế 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, nếu cơ sở y tế không đủ khả năng chẩn đoán và điều trị cho một trường hợp, cơ sở y tế đó có trách nhiệm phải lập giấy chuyển viện để người bệnh được khám và điều trị theo các quy định về chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật.
Tóm lại, quy định này quy định về việc sử dụng Giấy chuyển tuyến trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, đảm bảo rằng người bệnh được chuyển tới cơ sở y tế phù hợp để chẩn đoán và điều trị. Đồng thời, quy định này cũng đã trải qua sự điều chỉnh và thay đổi theo thời gian để phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
3. Quy định việc sử dụng giấy chuyển viện trong các trường hợp
Giấy chuyển viện từ tuyến dưới lên tuyến trên:
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có quyền chuyển người bệnh từ bệnh viện tuyến dưới lên bệnh viện tuyến trên khi đáp ứng các điều kiện sau:
Bệnh không phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới.
Bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới nhưng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó không đủ điều kiện để chẩn đoán và điều trị.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên liền kề không có dịch vụ kỹ thuật phù hợp, trong trường hợp này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới sẽ được chuyển lên tuyến cao hơn.
Trước khi chuyển tuyến, người bệnh phải được hội chẩn và có chỉ định chuyển tuyến, trừ phòng khám và cơ sở khám bệnh tuyến 4.
Giấy chuyển viện từ tuyến trên về tuyến dưới:
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có quyền chuyển người bệnh từ bệnh viện tuyến trên về bệnh viện tuyến dưới khi:
Người bệnh đã qua giai đoạn cấp cứu và bệnh tình đã thuyên giảm.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới có đủ điều kiện để tiếp tục điều trị cho bệnh nhân.
Giấy chuyển viện giữa các cơ sở khám, chữa bệnh cùng tuyến:
Người bệnh được cấp giấy chuyển tuyến giữa các bệnh viện, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cùng tuyến khi:
Bệnh không phù hợp với danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cùng tuyến, và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về y tế phê duyệt.
Chuyển viện giữa các cơ sở khám, chữa bệnh trên các địa bàn giáp ranh:
Để bảo đảm quyền lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh, người bệnh sẽ được cấp giấy chuyển viện giữa các bệnh viện, cơ sở khám bệnh chữa bệnh giáp ranh khi đáp ứng các điều kiện do Giám đốc Y tế quy định. Cụ thể:
Giám đốc Sở Y tế hướng dẫn cụ thể việc chuyển tuyến đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản lý.
Giám đốc các Sở Y tế thống nhất, phối hợp hướng dẫn cụ thể việc chuyển tuyến đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản lý.
Kết luận:
Các trường hợp chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám, chữa bệnh phải đáp ứng các điều kiện quy định để coi là chuyển đúng tuyến. Những trường hợp không đáp ứng đủ điều kiện sẽ được xem là chuyển vượt tuyến.
Quyền lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh được bảo đảm. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cung cấp thông tin về quyền lợi và mức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế khi người bệnh không theo đúng tuyến chuyên môn kỹ thuật
Xem thêm>>> Thu tục xin giấy chuyển viện, chuyển tuyến khám bệnh như thế nào?
Liên hệ tổng đài 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp
Trân trọng!