1. Thủ tục tố tụng đặc biệt tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi

Do tính chất đặc biệt của người dưới 18 tuổi nên BLTTHS năm 2015 quy định tại phần 7 thủ tục đặc biệt và chương XXVIII thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn trong TTHS, hạn chế quyền tự do đi lại của cá nhân, quyền con người. Do đó, khi áp dụng biện pháp tạm giữ phải tạo mọi điều kiện, phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lý cũng như lứa tuổi của người bị tạm giữ; đồng thời quá trình tiến hành phải đáp ứng thủ tục tố tụng thân thiện, đảm bảo đúng với yêu cầu, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; ngoài ra cũng cần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi, cũng như góp phần đem lại những lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi”.
Trên thực tế ở nhóm trẻ dưới 18 tuổi các em vẫn còn những nhận thức chưa đầy đủ về mức độ nguy hiểm do hành vi mình gây ra, cũng không lường trước được hậu quả do hành vi đó đem lại. Vì vậy chính sách hình của Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành người có ích cho xã hội. Do vậy, thủ tục tố tụng càng phải được quy định phù hợp với lứa tuổi của người dưới 18 tuổi.
Theo BLTTHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được tiến hành theo một trình tự đặc biệt quy định tại phần 7, chương XXVIII từ Điều 413 đến Điều 430.

1.1 Mục đích

Kịp thời ngăn chặn tội phạm, để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ hành vi, nội dung vụ việc; đảm bảo an toàn cho họ tránh được sự trả thù của bị hại và các đồng phạm khác hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội; cũng như bảo đảm cho quá trình thi hành án hình sự.

1.2 Chủ thể áp dụng

Trên thực tế pháp luật không có quy định riêng về chủ thế áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi nên thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ là những người được quy định tại khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, BLTTHS năm 2015 bổ sung thẩm quyền tạm giữ cho một số chủ thể khác như: Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư, chỉ huy tàu bay, tàu biển hay lực lượng hải quan...

1.3 Đối tượng bị áp dụng

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ gồm những người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Tuy nhiên, ở đây đối tượng bị tạm giữ là người dưới 18 tuổi, họ có những đặc điểm riêng biệt so với người từ 18 tuổi trở lên. Chính vì vậy khi áp dụng biện pháp tạm giữ đối với họ ngoài việc tuân theo những quy định của pháp luật cũng cần căn cứ vào độ tuổi và những đặc điểm riêng của lứa tuổi đó để đảm bảo quyền lợi cho người dưới 18 tuổi.

1.4 Thủ tục áp dụng

Pháp luật quy định thủ tục chung cho tất cả các vụ án hình sự có người bị tạm giữ. Tuy nhiên, nếu vụ án đó có người dưới 18 tuổi phạm tội bị tạm giữ thì phải áp dụng theo thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho họ để đảm bảo những quyền lợi riêng mà pháp luật dành cho người dưới 18 tuổi, cũng như chính sách nhân đạo của Nhà nước ta áp dụng đối với họ.

1.5 Thời hạn áp dụng

Cũng giống như các quy định về trình tự, thủ tục và thẩm quyền, thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi vẫn không có quy định riêng, mà được áp dụng chung đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, do những đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi có sự khác biệt vì vậy trước khi áp dụng biện pháp tạm giữ đối với họ cần phải xem xét, đánh giá từng khía cạnh cụ thể như độ tuổi, đặc điểm điều kiện sống, nhận thức của bản thân từng nhóm tuổi để có sự điều chỉnh cũng như cân nhắc cho phù hợp trước khi áp dụng. Với những cách tiếp cận khái niệm chung về biện pháp tạm giữ như trên, những vấn đề thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi chúng ta có thể đi đến khái niệm biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi như sau:
Biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng đối với người dưới 18 tuổi trong các trường hợp bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong các trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
Ngoài những quy định chung đối với người bị tạm giữ như: Mục đích đối tượng áp dụng, thẩm quyền ra lệnh bắt, thủ tục tạm giữ và thời hạn tạm giữ…Tạm giữ người dưới 18 tuổi phải áp dụng theo những quy định tại Điều 413 BLTTHS 2015 và nguyên tắc tiến hành tố tụng tại Điều 414 BLTTHS 2015.
Ðiều 413. Phạm vi áp dụng
Thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.
Điều 414. Nguyên tắc tiến hành tố tụng
1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi.
2. Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi.
3. Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Ðoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt.
4. Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi.
5. Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi.
6. Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
7. Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.

2. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ

Theo quy định tại Điều 419 BLTTHS năm 2015 để có thể áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi phải thỏa mãn các căn cứ như sau:

2.1 Để kịp thời ngăn chặn tội phạm

Trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm việc tạm giữ người phạm tội sẽ góp phần quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội tiếp tục xảy ra, phục vụ tốt cho công tác điều tra, xử lý tội phạm có hiệu quả. Việc áp dụng biện pháp tạm giữ nói chung và tạm giữ người dưới 18 tuổi nói riêng là hết sức cần thiết, đây cũng được xem là sự lựa chọn cuối cùng của các cơ quan tiến hành tố tụng và “chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả”.
Như vậy, có thể thấy rằng trước khi quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ người dưới 18 tuổi, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã xem xét, cân nhắc áp dụng biện  pháp giám sát quy định tại Điều 418 BLTTHS năm 2015 và các biện pháp ngăn chặn khác. Các biện pháp ngăn chặn khác ở đây bao gồm: cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh quy định tại Điều 123, Điều 124 BLTTHS năm 2015. Như vậy, có thể hiểu khi người dưới 18 tuổi có đủ các điều kiện để áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn nêu trên thì phải được ưu tiên áp dụng, chỉ khi không có đủ điều kiện để áp dụng các biện pháp này hoặc có cơ sở cho rằng việc áp dụng các biện pháp này sẽ không đạt hiệu quả thì mới được áp dụng biện pháp tạm giữ đối với họ. Ngoài ra, cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT ngày 21/12/2018 trong phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi hướng dẫn cụ thể hơn rằng: 
Điều 12. Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải
2. Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 1 Điều 419 Bộ luật Tố tụng hình sự trong trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi đã được áp dụng biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn khác quy định tại khoản 1 Điều này nhưng bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, có dấu hiệu bỏ trốn, tiếp tục phạm tội, có dấu hiệu tiếp tục phạm tội hoặc có các hành vi khác quy định tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.2 Khi có căn cứ chứng tỏ người phạm tội gây khó khăn cho hoạt động điều tra

Áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 419 BLTTHS hiện hành. Qua đó việc áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi được thực hiện trong trường hợp sau khi đã được áp dụng các biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn khác (cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh) nhưng phát sinh một trong những căn cứ sau:
Căn cứ thứ nhất, người dưới 18 tuổi bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Đây là trường hợp người dưới 18 tuổi đang bị áp dụng biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh nhưng trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn này người bị tạm giữ vẫn cố tình bỏ trốn khởi nơi cư trú gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử nên đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã. Sau khi bị bắt theo quyết định truy nã thì người dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ để đảm bảo hiệu quả các hoạt động tố tụng tiếp theo.
Căn cứ thứ hai, người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn. Trên thực tế  việc áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi được xác định trong trường hợp người này có các dấu hiệu của việc bỏ trốn, chứ không nhất thiết người đó đã thực hiện hành vi bỏ trốn. Thực tế hiện nay trong các quy định của pháp luật hiện hành, chưa có bất kỳ văn bản pháp luật nào hướng  dẫn cụ thể, phân tích làm rõ như thế nào là “có dấu hiệu bỏ trốn”. Do đó, dấu hiệu bỏ trốn ở đây được hiểu một cách “tùy nghi”. Vì vậy, để xác định được dấu hiệu bỏ trốn cần căn cứ vào tình hình cụ thể đối với từng trường hợp người dưới 18 tuổi bị buộc tội mà xem xét cụ thể như: có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện nhằm mục đích bỏ trốn; có hành vi lên kế hoạch để vượt biên; mua vé tàu, vé xe nhằm mục đích trốn sang địa phương khác mà không trình báo với chính quyền địa phương hoặc cơ quan đang tiến hành tố tụng; có hành vi móc nối, liên lạc với các cá nhân, tổ chức khác nhằm được hỗ trợ cho việc bỏ trốn.
Như vậy, “có dấu hiệu bỏ trốn” đối với người dưới 18 tuổi được hiểu là khi người này đã thực hiện một hoặc một số hành vi nhằm mục đích đi khỏi nơi cư trú hiện tại của mình, trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan có thẩm quyền đang tiến hành tố tụng.

2.3 Khi có căn cứ chứng tỏ người dưới 18 tuổi tiếp tục phạm tội

Sau khi đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người dưới 18 tuổi đã bị áp dụng biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh nhưng người dưới 18 tuổi vẫn có các dấu hiệu tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS.
Trong trường hợp này, việc để người dưới 18 tuổi bị buộc tội tiếp tục tự do sẽ ảnh hưởng đến an ninh trật tự nên việc áp dụng biện pháp tạm giữ là cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như ngăn ngừa khả năng người dưới 18 tuổi lại tiếp tục phạm tội.
Đối với trường hợp “có dấu hiệu tiếp tục phạm tội” cũng tương tự như căn cứ “có dấu hiệu bỏ trốn”, tức chỉ mới dừng lại ở việc có các dấu hiệu cho rằng họ sẽ tiếp tục thực hiện một hành vi phạm tội khác mà không nhất thiết rằng hành vi đó đã được thực hiện. Qua so sánh, đối chiếu với các giai đoạn phạm tội trong quy định của BLHS cho thấy rằng dấu hiệu của việc phạm tội được xác định tại giai đoạn “chuẩn bị phạm tội”, còn tại giai đoạn phạm tội chưa đạt, phạm tội đã hoàn thành hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt  hành vi phạm tội thì không được xem là có dấu hiệu nữa mà hành vi phạm tội đó đã được thực hiện. Dấu hiệu này có thể được xác định thông qua các hoạt động như: tìm kiếm, sửa soạn thiết bị, công cụ, dụng cụ, tài liệu, phương tiện hoặc trực tiếp xây dựng, tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc kêu gọi thành lập, tham gia tạo ra nhóm tội phạm.

2.4 Để đảm bảo cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

Để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử việc áp dụng biện pháp tạm giữ như thế nào, áp dụng ra sao cũng là một trong những vấn đề được các cơ quan tiến hành tố tụng hết sức quan tâm. Theo quy định tại khoản 2 Điều 418 BLTTHS năm 2015 khi người dưới 18 tuổi phạm tội có một trong các dấu hiệu như: Bỏ trốn hoặc có hành vi nhằm mục đích mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp các tài liệu, tư liệu sai sự thật; Có dấu hiệu nhằm mục đích tiêu hủy, làm giả, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản có liên quan đến vụ án; Có hành vi đe dọa, khống chế hay trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì những người được giao nhiệm vụ giám sát, quản lý những người này phải kịp thời thông báo và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng biện pháp phù hợp để kịp thời ngăn chặn, xử lý khi xuất hiện những dấu hiệu trên.
Ðiều 418. Giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
2. Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người dưới 18 tuổi, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.
Trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời.
Trên thực tế thông thường sau khi thực hiện hành vi phạm tội người phạm tội nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng thường có tâm lý lo lắng, sợ hãi, dẫn đến hành vi xóa dấu vết, tiêu hủy tài liệu chứng cứ, tìm cách đối phó với cơ quan điều tra và bỏ trốn. Các hành vi này của họ đa phần diễn ra sau khi đã thực hiện tội phạm. Chính vì vậy, đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội đã thực hiện một trong những hành vi nhằm gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử như: mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, xúi giục, thông đồng với người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy chứng cứ, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này thì có thể sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giữ.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê