- 1. Top 3+ bài văn mẫu thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo chọn lọc hay nhất
- Bài văn thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo - Mẫu số 1
- Bài văn thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo - Mẫu số 2
- Bài văn thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo - Mẫu số 3
- 2. Dàn ý bài văn mẫu thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo
1. Top 3+ bài văn mẫu thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo chọn lọc hay nhất
Bài văn thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo - Mẫu số 1
"Bình ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi được xem là một trong những tác phẩm kinh điển trong nền văn học Việt, là một trong số rất nhiều tác phẩm được viết nên để ca ngợi truyền thống yêu nước từ ngàn đời của dân tộc ta. Tác phẩm chính là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, được đánh giá là áng "thiên cổ hùng văn".
Nguyễn Trãi quê ở Chi Ngãi (Chí Linh, Hải Dương), hiệu là Ức Trai. Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng rất giàu truyền thống yêu nước và có một mối quan tâm đặc biệt đến văn học, văn hóa nước nhà. Cha và ông ngoại của Nguyễn Trãi đều là những người học rộng tài cao và có rất nhiều đóng góp quan trọng cho triều đình. Ông ngoại ông là Tư đồ Trần Nguyên Đán còn cha của ông là Nguyễn Phi Khanh.
Cũng rất như nhiều tấm gương sáng thế hệ trước, Nguyễn Trãi rất miệt mài kinh sử, vào năm 1400 ông đỗ Thái học sinh và được làm quan phục vụ triều đình nhà Hồ. Đến năm 1407, do nhà Hồ không đủ sức để chống trả trước sự xâm lược của giặc Minh, cha ông bị bắt sang Trung Quốc còn ông thì đã có một quyết định là tham gia vào nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu và bảo vệ tổ quốc.
Với khả năng lãnh đạo tài ba và sự giúp sức của những người cộng sự vô cùng nhiệt tình, Nguyễn Trãi, Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đã giành được rất nhiều thắng lợi to lớn trước giặc Minh. Lê Lợi có một niềm tin vững chắc vào Nguyễn Trãi - lúc này ông đã là vị vua của nước Đại Việt. Tuy nhiên sau đó triều đình lại xảy ra rất nhiều chuyện nội bộ, gian thần nhiễu nhương, Nguyễn Trãi quyết định về quê để tìm cuộc sống mới, lánh đục tìm trong.
Thế nhưng mong muốn của ông đã không được toàn vẹn khi ông lại bị vướng vào vụ án oan giết vua tại Lệ Chi Viên năm 1442, ông và cả gia đình đã nhận một bản án khủng khiếp, tru di tam tộc. Nỗi oan của ông phải đến tận năm 1464 mới được vua Lê Thánh Tông làm rõ.
Nguyễn Trãi đã để lại cho nước nhà rất nhiều tác phẩm vô cùng giá trị trên nhiều lĩnh vực. Những sáng tác của ông được viết bằng cả chữ Nôm và chữ Hán. Phần lớn những tác phẩm của ông đều phục vụ đắc lực cho tinh thần chiến đấu của đội quân nhà trước giặc ngoại xâm, thể hiện những nỗi lo của ông về nước nhà và con người.
Sự ra đời của tác phẩm gắn liền với hoàn cảnh đất nước ta vừa trải qua rất nhiều cuộc chiến đấu và nhiều năm khổ cực chống sự xâm lược của giặc Minh. Sau chiến thắng dữ dội đó, Nguyễn Trãi đã thay mặt cho vua Lê Lợi viết ra tác phẩm nhằm khẳng định sự độc lập của đất nước. "Bình ngô đại cáo" được công bố năm 1428, đây chính là một lời buộc tội đanh thép đến giặc ngoại xâm đồng thời chính là một bản tuyên ngôn thành lập một triều đại mới của đất nước.
"Bình ngô đại cáo" được tác giả viết bằng thể loại rất đặc biệt - thể cáo. Đây chính là thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc và thường được vua chúa, những người đứng đầu sử dụng để đưa ra một chủ trương, chính sách, quyết định hoặc để tuyên bố những sự kiện trọng đại để mọi người cùng biết. Cáo sử dụng những lời lẽ vô cùng đanh thép, sắc bén và đặc biệt là có kết cấu vô cùng mạch lạc, chặt chẽ.
Chỉ qua nhan đề của tác phẩm Nguyễn Trãi đã giúp người đọc hình dung được giá trị của nó. Từ "đại cáo" trong nhan đề để cho người đọc thấy được rằng đây không đơn thuần chỉ là một bài cáo mà là bài cáo mang tính trọng đại của quốc gia. Bên cạnh đó, dù cuộc chiến của dân tộc ta trước giặc Minh nhưng trong nhan đề lại xuất hiện từ "Ngô", đó chính là cách gọi của người Trung Quốc theo thói quen của dân tộc ta nhưng bằng thái độ vô cùng căm thù, khinh bỉ. Từ ngàn đời nay, phương Bắc luôn có mưu đồ xâm chiếm nước ta, chúng đã khiến nhân dân ta phải trải qua biết bao nhiêu là khổ cực, vất vả. Chính vì thế mà chưa một giây phút nào dân ta nguôi ngoai trước sự độc ác, tàn bạo của chúng và giờ đây mọi phẫn nộ, uất ức đó đều đổ dồn lên giặc Minh.
Để khẳng định chắc chắn về chủ quyền quốc gia, nền độc lập của Đại Việt, Nguyễn Trãi đã nêu nên luận đề chính nghĩa có ý nghĩa tất yếu:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Luận đề trên khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa dân, nước và sự nhân nghĩa. Nhân nghĩa là một khái niệm vô cùng quan trọng trong đạo Nho, nói về cách ứng xử giữa người với người dựa trên sự tốt đẹp, đạo đức. Thế nhưng trong thời buổi giặc xâm lược, tác giả đã cụ thể hóa biểu hiện của một con người sống nhân nghĩa chính là biết trừ bạo. Đó chính là một chân lý vô cùng thiết thực, phù hợp với tình hình xã hội nước ta lúc bấy giờ. Con người đất Việt dù già trẻ, gái trai, bất kể ai cũng phải chiến đấu cho sự độc lập của dân tộc. Điều này là một quan niệm đã được khẳng định vô cùng chắc chắn:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Qua các triều đại và sự xuất hiện của nhiều anh hùng hào kiệt từng thời:
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Khi thuyết minh về "Bình ngô đại cáo" bên cạnh việc tác phẩm làm nổi bật nên nền độc lập, chủ quyền dân tộc, tác phẩm còn là bản cáo trạng đanh thép đối với những tội ác mà kẻ thù đã gây ra cho dân tộc ta suốt 20 năm xâm lược. Từ những ngày đầu khi đặt chân đến nước ta, chúng đã tỏ rõ là một kẻ bịp bợm, độc ác.
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa.
Chúng ra sức chà đạp, vùi dập nhân dân ta. Độc ác, tàn nhẫn hơn nữa là chúng còn sẵn sàng cướp đi tính mạng của con người bằng những phương thức dã man:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Thật sự những tội ác mà chúng gây nên không thể nào đếm được:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Khi nói về tội ác của giặc, tác giả đã phải bất lực về từ ngữ để miêu tả điều đó. Trong bản cáo trạng ấy, ta có thể thấy cảm giác vô cùng sôi sục, phẫn nộ, uất hận của tác giả gửi gắm vào đó. Tác giả luôn hướng đến một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân cũng những đau thương, xót xa trước sự hy sinh của nhân dân.
Với tội ác dã man của giặc, quân dân ta đã đồng lòng đứng lên để đánh trả, giành lại chủ quyền đất nước. Những anh hùng hào kiệt, đặc biệt là vị tướng tài ba Lê Lợi đều có xuất thân bình thường.
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương mình.
Khi chiến đấu với kẻ thù đã gặp biết bao gian khổ, khó khăn:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.
Có lúc phải đối diện với cái chết khi thiếu thốn lương thực:
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần
Khi Khôi Huyện quân không một đội.
Nhưng với tinh thần quật cường, ý chí sắt đá, quân và dân ta đã đồng lòng chiến đấu và thắng lợi trước giặc ngoại xâm. Ta chiến thắng giành được độc lập, giặc thất bại nhục nhã chính là cái kết tất nhiên cho những gì mà chúng đã gây ra. Tuy nhiên điều đặc biệt ở đây là dù chúng có độc ác, tàn nhẫn, dân ta có bị chà đạp, vùi dập đến đâu thì vẫn lấy tấm lòng hiếu sinh để mở đường sống cho chúng. Như vậy đến cuối cùng ta vẫn dùng sự nhân đạo để đối xử với kẻ thù. Thế mới thấy rằng cách hành xử của ta với tội ác của giặc khiến cho tinh thần nhân nghĩa của ta vô cùng cao thượng, lên một tầm cao mới.
Cuối cùng, nền độc lập dân tộc, giành lại được chủ quyền đất nước sau rất nhiều mất mát, đau thương chính là kết quả tốt đẹp cho một dân tộc chiến đấu anh hùng, sống nhân nghĩa. Thuyết minh về tác phẩm không thể quên rằng Nguyễn Trãi đã thay mặt cho nhà vua để công bố đến đông đảo quần chúng nhân dân:
Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Càn khôn bĩ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
Ngàn thu vết nhục sạch làu.
Lời tuyên bố của tác giả cho thấy một niềm tin mãnh liệt về một nền thái bình, lâu dài của nhân dân ta. Sau những tháng ngày phải chịu cảnh chà đạp, áp bức, bóc lột thì giờ đây dân tộc ta đã tự giải cứu được mình, tìm thấy được sự sống cho đất nước. Hai câu kết của bài cáo cũng chính là sự khép lại cho thời kỳ gian khổ đấu tranh và cánh cửa mở ra một thời đại phát triển, tươi sáng:
Một cố nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm;
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn.
Tác phẩm "Bình ngô đại cáo" đúng là kiệt tác cả về nội dung và nghệ thuật. Tác giả đã sử dụng lối viết có kết hợp khéo léo giữa chính luận và văn chương. Khi viết tác phẩm, tác giả còn biến đổi vô cùng linh hoạt giọng văn, hình ảnh được sử dụng trong bài cáo vô cùng sinh động và hoành tráng.
Nguyễn Trãi còn sử dụng thành công cách liệt kê hình tượng đa dạng, phong phú, thể hiện sự đối lập giữa ta và địch trong kháng chiến. Đoạn viết về khởi nghĩa chính là một trong những đoạn thơ vô cùng đặc sắc về nghệ thuật.
Có thể thấy rằng, với những giá trị to lớn của tác phẩm, "Bình ngô đại cáo" xứng đáng là tác phẩm kinh điển của nền văn học Việt. Bài cáo không chỉ khẳng định chắc chắn về chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc mà còn góp phần to lớn tác động đến ý chí của nhân dân trong sự chiến đấu quật cường, bất khuất trước giặc ngoại xâm và tấm lòng nhân đạo, tinh thần nhân nghĩa của nhân dân ta.
(25).jpg)
Bài văn thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo - Mẫu số 2
Nguyễn Trãi chính là một thi sĩ lớn của nền văn học Việt Nam. Ông đã để lại cho đời sau biết bao nhiêu tác phẩm chứa giá trị to lớn. "Bình ngô đại cáo" chính là một trong những tác phẩm như vậy, tổng kết quá trình xuất sắc chống giặc ngoại xâm của dân tộc, đồng thời khẳng định chắc chắn về chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc và tinh thần yêu nước quật cường của nhân dân. Với ngòi bút tài hoa và sự nhạy bén trong tính cách, tác phẩm do ông viết đã trở thành một áng "thiên cổ hùng văn".
"Bình ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi viết bằng thể cáo - một thể thường được vua chúa, thủ lĩnh sử dụng để thông báo những sự kiện trọng đại của quốc gia, dân tộc. Tác phẩm có một giá trị vô cùng to lớn cả về phương diện lịch sử lẫn văn học. Ông đã thay mặt cho vua Lê Lợi để viết nên tác phẩm vào đầu năm 1428, sau khi nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi trước sự xâm lược của giặc Minh, giặc đành phải rút về nước, nhân dân ta giành lại được độc lập, chủ quyền.
Chỉ qua nhàn đề tác giả đã cho người đọc thấy rằng đây là bài cáo quan trọng tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô - một tên gọi mang ý nghĩa khinh bỉ quân Minh. Bài cáo được viết bố cục vô cùng mạch lạc, chặt chẽ, tố cáo tội ác dã man của giặc và khẳng định chắc nịch chủ quyền dân tộc. Chính vì vậy, bài cáo khơi gợi lên những cảm xúc: cảm xúc hào hùng, cảm giác căm thù giặc ngoại xâm, cảm hứng về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, tinh thần quật cường của nhân dân Đại Việt. Bài cáo được chia làm 4 phần, phần 1 nêu lên luận đề chính nghĩa, phần 2 tố cáo tội ác của giặc, vạch trần mưu đồ xâm lược Đại Việt với cớ phù Trần diệt Hồ của giặc. Phần 3 là quá trình gian lao kháng chiến và sự thắng lợi to lớn của khởi nghĩa Lam Sơn. Phần 4 chính là nêu ra bài học lịch sử và sự khẳng định tính tất yếu thắng lợi của chính nghĩa.
Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Trãi đã nêu lên nguyên lý chính nghĩa làm nền tảng, chỗ dựa để triển khai bài cáo. Tiếp thu từ những giá trị tinh hoa của Nho giáo cùng với sự phát triển nội dung nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã nêu lên một luận đề đầy tính dân tộc:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Với Nguyễn Trãi, trừ bạo trước hết là để nhân dân có một cuộc sống hạnh phúc, ấm no. Ông đưa ra quan điểm rằng muốn trị vì thiên hạ thì trước hết phải nghĩ đến "nhân nghĩa". Dân tộc ta chiến đấu với giặc ngoại xâm chính là một dân tộc sống có nhân nghĩa. Sau đó, Nguyễn Trãi đã nêu lên chân lý khách quan tất yếu về sự độc lập của Đại Việt:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Phần 2 - căm thù sự xâm lược của giặc ngoại xâm, Nguyễn Trãi đã thể hiện sự sục sôi, uất ức, viết ra một bản cáo trạng vô cùng đanh thép với một kết cấu logic: vạch trần âm mưu xâm lược, lên án chủ trương cai trị độc áo, tố cáo mạnh mẽ những tội ác. Qua việc phân tích âm mưu xảo trá của giặc, tác giả đã đi sâu những việc làm diệt chủng, phi nhân nghĩa:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Tội ác của chúng khiến cho tác giả không thể sử dụng được từ ngữ nào để đo lường:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa hết mùi
Phần 3 - tác giả đã khắc họa lại quá trình đất khó khăn, gian nan của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Chính những gian khổ đó đã dẫn đến một kết cục vô cùng có hậu về sau. Cảm hứng anh hùng ca bao trùm xuyên suốt đoạn trích. Những chiến công được miêu tả trong nhịp dồn dập, nhạc điệu trong câu hào hùng:
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông cũng phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chim muông
Phần 4 - Nguyễn Trãi đã không thể giấu đi những cảm xúc vui sướng khi đất nước giành được độc lập, thay lời nhà vua trịnh trọng tuyên bố về sự độc lập bền vững, lâu dài:
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Kiền khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Từ đó người đọc thấy được viễn cảnh vô cùng hoành tráng, huy hoàng của non sông xã tắc. Hiện thực hôm nay chính là nhờ những công sức chiến đấu, những ngày tháng vô cùng đau thương của quá khứ.
Bài cáo được Nguyễn Trãi thể hiện thành công cả về nội dung và nghệ thuật. Bên cạnh đó, giọng điệu ở mỗi phần đều được thay đổi phù hợp, khi thì tràn đầy uất ức, căm phẫn, khi thì hừng hực dữ dội. Sự am hiểu sâu sắc của Nguyễn Trãi về lịch sử dân tộc, về điển tích, điển cố đã làm tăng tính hấp dẫn, thuyết mục cho tác phẩm.
"Bình ngô đại cáo" chính là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, vừa khẳng định chủ quyền độc lập vừa tố cáo tội ác dã man của giặc Minh. Đã trải qua bao nhiêu biến cố lịch sử nhưng "Bình ngô đại cáo" vẫn luôn giữ được những giá trị to lớn của nó đến tận hôm nay. Nguyễn Trãi chính là một nhà quân sự tài ba, một nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà thơ, nhà văn tài tình và sẽ mãi mãi được lưu truyền sử sách trên mảnh đất Việt Nam.
Bài văn thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo - Mẫu số 3
Nguyễn Trãi chính là một trong số những tác giả kiệt xuất đối với nền văn học trung đại Việt Nam, ông đã để lại cho hậu bối rất nhiều tác phẩm kinh điển được viết bằng cả chữ Nôm và chữ Hán. Đọc những tác phẩm của ông có thể dễ dàng nhận thấy được tấm lòng yêu thương con người, đất nước da diết, mãnh liệt. "Bình ngô đại cáo" chính là tác phẩm thể hiện trọn vẹn những đức tính tốt đẹp đó của ông.
Tác phẩm được ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, sau khi đánh tan quân xâm lược, Vương Thông đã phải miễn cưỡng giảng hòa và rút quân Minh về nước, nhân dân ta giành lại được độc lập, chủ quyền. Trong hoàn cảnh lịch sử hào hùng ấy, Nguyễn Trãi đã thay mặt vua Lê Lợi để viết tác phẩm "Bình ngô đại cáo" và chính thức công bố với toàn thể quần chúng nhân dân vào đầu năm 1428. Tác phẩm chính là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta.
Tác phẩm được Nguyễn Trãi viết bằng thể cáo - một thể loại có nguồn gốc từ Trung Hoa, thường được nhà vua hoặc thủ lĩnh sử dụng để công bố một sự kiện trọng đại của đất nước. Cũng như rất nhiều thể loại văn khác thời cổ, cáo được trình bày rất mạch lạc, rõ ràng, chặt chẽ về kết cấu, lập luận sắc bén và lý lẽ vô cùng thuyết phục. "Bình ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi là một tác phẩm hội tụ đầy đủ rõ nét về những đặc điểm này.
Tác phẩm được chia làm 4 phần với 4 ý nghĩa khác nhau. Đoạn mở đầu bài cáo đã nêu lên luận điểm chính nghĩa để làm cơ sở, nền tảng để triển khai nội dung bài cáo. Luận đề chính nghĩa ấy chính là sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng thân dân với độc lập dân tộc:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Sau khi nêu được luận điểm chính nghĩa để làm cơ sở, trong phần 2, Nguyễn Trãi đã vạch rõ những tội ác vô cùng độc ác, man rợ của kẻ thù phương Bắc. Đó là những hành động sát hại, chà đạp, vùi dập nhân dân ta một cách không thể độc ác hơn. "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn". Đó là những thứ thuế vô lý, hủy hoại môi trường sống, phá hoại tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của người dân Đại Việt. Tất cả những tội ác man rợ đó đã được Nguyễn Trãi khắc họa lên vô cùng chân thực, rõ nét bằng những lời lẽ thuyết phục, sắc bén. Ở phần hai, tác giả còn nêu lên ý chí căm thù, phẫn nộ sâu sắc của nhân dân đối với kẻ thù. Phần 3 Nguyễn Trãi đã tái hiện lại rõ nét quá trình chiến đấu, chinh phạt nhiều gian khổ, khó khăn và tất yếu thắng lợi của nhân dân ta. Ban đầu, cuộc chiến đấu của nghĩa quân Lam Sơn vấp phải vô vàn rào cản, khó khăn, thiếu thốn đủ thứ cả về nhân lực, thực phẩm. Nhưng rồi với ý chí quật cường, sự lãnh đạo tài ba của Lê Lợi, nghĩa quân và toàn thể nhân dân đã thắng lợi không thể vẻ vang hơn trước sự xâm lược của giặc ngoại xâm. Trên cơ sở nêu lên luận đề chính nghĩa, vạch rõ những âm mưu và tội ác man rợ của kẻ thù, quá trình chiến đấu quật cường của dân tộc ta, khép lại đoạn văn chính là lời tuyên bố độc lập, tất yếu thắng lợi của chính nghĩa. Đoạn cuối cùng của bài cáo chính là lời tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định chắc nịch về chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc và niềm tin vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp của đất nước, nhân dân.
Không chỉ dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn để lại trong lòng người đọc một ấn tượng sâu sắc trong sự thể hiện thành công cả về nội dung và nghệ thuật. Trước hết, bài cáo thành công trong việc kết hợp thích hợp, hài hòa giữa yếu tố chính luận với yếu tố văn chương với nhiều hình ảnh vô cùng chân thật, độc đáo. Thêm vào đó, bài cáo còn được thay đổi giọng điệu vô cùng linh hoạt trong từng phần, phù hợp với nội dung - tự hào về truyền thống tốt đẹp lâu đời của dân tộc, phẫn nộ khi vạch rõ tội ác của kẻ thù, trịnh trọng khẳng định về sự độc lập của dân tộc.
"Bình ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi chính là thiên hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của toàn dân ta trong thế kỷ XV. Tác phẩm vừa có giá trị to lớn về lịch sử lẫn văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử quan trọng mà còn góp phần khích lệ tinh thần chiến đấu quật cường, lòng tự hào dân tộc đến thế hệ sau. Nguyễn Trãi chính là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà thơ, nhà văn tài ba sẽ mãi mãi được khắc ghi trong tâm trí mỗi người con đất Việt.
2. Dàn ý bài văn mẫu thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo
I. Mở bài
– Giới thiệu khái quát về Nguyễn Trãi, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc, nhà chính trị, quân sự, ngoại giao và nhà văn lớn thời Lê sơ.
– Giới thiệu tác phẩm Bình Ngô đại cáo: hoàn cảnh ra đời sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn năm 1428, do Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi công bố.
– Khẳng định vị trí, ý nghĩa của tác phẩm: một áng thiên cổ hùng văn, được xem là bản Tuyên ngôn Độc lập thứ hai của dân tộc Việt Nam.
II. Thân bài
Hoàn cảnh sáng tác và mục đích ra đời của tác phẩm
– Bối cảnh lịch sử:
- Sau khi nhà Hồ thất bại năm 1407, đất nước rơi vào ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh suốt 20 năm.
- Nhà Minh thực hiện chính sách đồng hóa, bóc lột, hủy hoại văn hóa và đời sống nhân dân Đại Việt.
– Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1428), đỉnh cao là chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427, buộc quân Minh phải rút về nước.
– Mục đích sáng tác:
- Tuyên bố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống giặc Minh.
- Khẳng định nền độc lập, chủ quyền của quốc gia Đại Việt.
- Tổng kết cuộc chiến tranh chính nghĩa và mở ra thời kỳ hòa bình, xây dựng đất nước.
Thể loại và nhan đề tác phẩm
– Thể loại cáo:
- Là thể văn chính luận cổ, dùng để công bố những sự kiện trọng đại của quốc gia.
- Khác với chiếu, hịch, tấu ở mục đích và đối tượng tiếp nhận.
– Ý nghĩa nhan đề Bình Ngô đại cáo:
- “Bình”: dẹp yên.
- “Ngô”: cách gọi khinh miệt quân xâm lược phương Bắc.
- “Đại cáo”: bài cáo lớn, công bố cho toàn dân biết.
– Khẳng định sự sáng tạo của Nguyễn Trãi: nâng thể cáo lên tầm vóc một bản tuyên ngôn độc lập và bản anh hùng ca của dân tộc.
Nội dung tác phẩm theo bố cục bốn phần
a. Phần một: Luận đề chính nghĩa và chân lý độc lập dân tộc
– Giải thích tư tưởng nhân nghĩa:
- Nhân nghĩa gắn liền với việc yên dân và trừ bạo.
- Cuộc kháng chiến chống giặc Minh là hành động nhân nghĩa cao cả.
– Khẳng định chân lý độc lập của Đại Việt:
- Đại Việt có nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ riêng, phong tục riêng.
- Có lịch sử các triều đại độc lập song song với phương Bắc.
- Có con người anh hùng, hào kiệt qua các thời kỳ.
– Dẫn chứng lịch sử để chứng minh: mọi thế lực xâm lăng đều thất bại.
b. Phần hai: Bản cáo trạng về tội ác của giặc Minh
– Vạch trần bản chất phi nghĩa, tàn bạo của quân xâm lược.
– Các tội ác tiêu biểu:
- Tàn sát nhân dân vô tội.
- Bóc lột tài nguyên, phá hoại môi trường.
- Bóc lột sức lao động, làm tan nát đời sống kinh tế và xã hội.
– Hình ảnh phóng đại trúc Nam Sơn, nước Đông Hải thể hiện sự căm phẫn tột độ trước tội ác kẻ thù.
c. Phần ba: Bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
– Giai đoạn đầu đầy gian khổ: thiếu lương thực, lực lượng mỏng, hoàn cảnh hiểm nghèo.
– Quá trình lớn mạnh và phản công:
- Nghĩa quân chuyển hướng chiến lược, giành nhiều thắng lợi lớn.
- Các trận đánh tiêu biểu: Bồ Đằng, Trà Lân, Tốt Động, Chúc Động.
– Đỉnh cao là chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang:
- Tiêu diệt hoàn toàn các đạo viện binh của nhà Minh.
- Thể hiện tài thao lược quân sự và sức mạnh chính nghĩa của nghĩa quân.
– Khẳng định quy luật: chính nghĩa thắng hung tàn.
d. Phần bốn: Tuyên bố thắng lợi và mở ra kỷ nguyên hòa bình
– Tuyên bố đất nước độc lập, giang sơn đổi mới, xã tắc bền vững.
– Khẳng định quy luật vận động của lịch sử: bĩ cực rồi thái lai.
– Thể hiện tư tưởng nhân đạo, khoan dung với kẻ thù bại trận.
– Kết thúc bằng lời thông báo trang trọng cho toàn dân.
Giá trị nghệ thuật của tác phẩm
– Nghệ thuật lập luận chặt chẽ, logic, bố cục rõ ràng.
– Giọng điệu linh hoạt: hùng hồn, căm phẫn, hào sảng, khoan hòa.
– Ngôn ngữ chính luận giàu hình ảnh, sử dụng biền ngẫu, phóng đại, đối lập.
– Kết hợp hài hòa giữa tư duy chính trị sắc bén và cảm hứng văn chương lớn.
III. Kết bài
– Khẳng định Bình Ngô đại cáo là tác phẩm có giá trị to lớn về lịch sử, tư tưởng và văn học.
– Nhấn mạnh ý nghĩa của tác phẩm đối với truyền thống yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc.
– Bày tỏ niềm tự hào về trí tuệ, nhân cách và tầm vóc tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng như giá trị bền vững của tác phẩm trong lịch sử văn học Việt Nam.
