1. Khái niệm thuyết pháp luật thực chứng

Thuyết pháp luật thực chứng là học thuyết về pháp luật hình thành trên cơ sở tư tưởng triết học chủ nghĩa thực chứng hay còn gọi là chủ nghĩa thực nghiệm mà người sáng lập là Ô. Công tơ (August Comte; 1798-1857). Xuất phát từ cái gốc là tình đoàn kết tồn tại và chi phối xã hội. Thuyết pháp luật thực chứng có yếu tố tích cực vì nó thuyết minh cho tính đáng tin cậy của pháp luật, thỏa mãn được nhu cầu chung về tính đáng tin cậy, minh bạch của pháp luật. Nhưng rõ ràng nó rất phiến diện, vì nó thừa nhận tính đạo đức, hợp lí, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội đối với văn bản pháp luật.

2. Nội dung của học thuyết pháp luật thực chứng

Côngtơ trình bày hệ tư tưởng của mình trong tác phẩm “Giáo trình triết học khẳng định" (1830 - 1842) và tác phẩm 4 tập “Hệ thống chính trị khẳng định” (1851 - 1854). Về mặt triết học, Côngtơ chủ trương con người không có khả năng thâm nhập vào bản chất của sự vật, tri thức của con người bị giới hạn bằng kinh nghiệm, sự mô tả hiện tượng, phát hiện các mối liên hệ và các quan hệ giữa chúng với nhau. Con người chỉ có thể tiếp cận với các quy luật của hiện tượng. Đối với ông, không thể có tri thức tuyệt đối - đó là nguyên tắc duy nhất, tuyệt đối của ông. Về mặt khoa học, Côngtơ chủ trương phải lấy sự thực mà con người đã trải qua làm cơ sở và lấy thực nghiệm, quan sát làm phương pháp nghiên cứu khoa học. Ông tự nhận mình là người cải tạo, cách tân các khoa học và ông là người đã đề ra chủ trương lấy xã hội học làm khoa học chung về các hiện tượng xã hội mà các quy luật của nó là hoàn toàn thích hợp với mọi thời đại và mọi dân tộc. Xã hội học của Côngtơ được chia thành hai phần: Phần thứ nhất là “Thống kê” chuyên nghiên cứu cơ cấu xã hội và Phần thứ hai là “Động thái” chuyên nghiên cứu sự phát triển của xã hội và cả hai được thể hiện thành phương thức biểu đạt “trật tự và tiến bộ” và được ông trình bày ở đầu bìa cuốn sách: “Hệ thống chính trị khẳng định của Côngtơ”. Đó cũng là hai đề tài chủ yếu của hệ thống triết học xã hội của ông. Côngtơ chủ trương “Trật tự” với nghĩa là duy trì chế độ xã hội hiện tổn, ủng hộ tình trạng không thể lay chuyển của quan hệ tư bản chủ nghĩa và chủ trương vì sự “tiến bộ” với nghĩa là sự phát triển hòa bình, không bị gián đoạn bởi các cuộc cải tạo cách mạng đối với xã hội tư sản. Xã hội như một tổng thể hữu cơ là đối tượng mà ông dành sự trọng tâm chú ý trong đó. Tình đoàn kết là hiện thân mối quan hệ của con người và các nhóm xã hội. Ông thừa nhận trong xã hội đương thời tư sản và vô sản là những giai cấp đối lập nhưng sự đoàn kết sẽ liên kết họ vì trong mọi xã hội đều tổn tại một mục tiêu chung và có sự thống nhất hài hòa nhất định. Hài hòa là một trạng thái tồn tại khắp mọi chốn, nơi tồn tại một hệ thống nhất định nào đó. Côngtơ tuyên bố: Không một xã hội nào có thể tồn tại nếu người dưới không tôn trọng người trên, người mạnh không giữ quyền thống trị mà phải đi phục vụ kẻ yếu. Xuất phát từ cái gốc là tình đoàn kết tồn tại và chỉ phối xã hội, Côngtơ đả kích một cách mạnh mẽ các quyền. Côngtơ khẳng định triết học của mình không thừa nhận bất kì một thứ quyền nào ngoài cái quyền chấp hành nghĩa vụ của mình. Khái niệm quyền phải được biến mất khỏi lĩnh vực chính trị cũng như khái niệm nguyên nhân - khỏi lĩnh vực triết học. Con người sinh ra bởi các nghĩa vụ và với các nghĩa vụ đó mà sống cả cuộc đời mình. Tất cả mọi quyền đều phải được thủ tiêu. Đi theo hướng đó, những người theo trường phái pháp luật thực chứng chủ trương xây dựng nhà nước cực quyền. Goblooc, một người theo trường phái này, khẳng định sức mạnh pháp lí của đạo luật bắt nguồn từ chỗ nó là mệnh lệnh của người đứng đầu một nhà nước, là lực lượng và là nguồn gốc đầu tiên sinh ra pháp luật và pháp luật do nhà nước đặt ra là một thứ văn bản có tính mệnh lệnh và tất cả những gì do nhà nước quy định thì đều phải được xem là pháp luật, ngay cả những đạo luật cực kì vô nhân đạo vẫn giữ nguyên giá trị và đó là một phần của hệ thống pháp luật của nhà nước. Tất nhiên, thuyết pháp luật thực chứng có yếu tố tích cực vì nó thuyết minh cho tính đáng tin cậy của pháp luật, thỏa mãn được nhu cầu chung về tính đáng tin cậy, minh bạch của pháp luật. Nhưng rõ ràng nó rất phiến diện, vì nó không thừa nhận tính đạo đức, hợp lí, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội đối với một văn bản pháp luật. Đối với những người theo thuyết giáo này thì bất kì một điều gì đó đều có thể trở thành luật của một nhà nước khi nó được một ai đó có đủ sức mạnh buộc mọi người tôn trọng, chấp hành. Đây là một cách để phủ nhận sự phân biệt, đối lập giữa pháp luật và sự tùy tiện, bạo lực và tự do vì chỉ cần được nhà nước, người có quyền cho phép. Tính ngụy biện của cách lập luận, lí giải của thuyết pháp luật thực chứng rất nguy hiểm, reo rắc ở những người nhẹ dạ dễ tin theo nó với sự ngộ nhận, nhận thức mơ hồ về pháp luật làm căn cứ cho nhu cầu xây dựng một nhân sinh quan đúng đắn, cách mạng đối với pháp luật. Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, những kẻ bảo hộ cho chế độ tư bản độc quyền đã ra sức lợi dụng nó hòng ru ngủ một bộ phận quần chúng nhân dân dễ dàng có thái độ chấp nhận cái xã hội hiện tồn dù nó phản dân chủ đến đâu.

3. Khái niệm chủ nghĩa thực chứng pháp lý

Chủ nghĩa thực chứng pháp lý là một trường phái tư tưởng về phân tích luật học được phát triển phần lớn bởi các nhà triết học pháp lý trong thế kỷ 18 và 19, chẳng hạn như Jeremy Bentham và John Austin . Trong khi Bentham và Austin phát triển lý thuyết thực chứng pháp lý, thì chủ nghĩa kinh nghiệm đã cung cấp cơ sở lý thuyết cho những phát triển như vậy xảy ra. Nhà văn theo trường phái thực chứng pháp lý nổi tiếng nhất bằng tiếng Anh là H. LA Hart , người, vào năm 1958, đã tìm ra cách sử dụng phổ biến của "chủ nghĩa thực chứng" khi được áp dụng cho luật để bao gồm nội dung rằng:
- Luật là mệnh lệnh của con người;
- Không có bất kỳ mối quan hệ cần thiết nào giữa luật pháp và đạo đức, nghĩa là, giữa luật pháp như nó vốn có và nó phải như thế;
- Phân tích (hoặc nghiên cứu ý nghĩa) của các khái niệm pháp lý là đáng giá và cần được phân biệt với lịch sử hoặc xã hội học về luật , cũng như từ việc phê bình hoặc thẩm định pháp luật, ví dụ liên quan đến giá trị đạo đức của nó hoặc các mục đích hoặc chức năng xã hội của nó;
- Hệ thống pháp luật là một hệ thống logic, khép kín, trong đó các quyết định đúng đắn có thể được suy ra từ các quy tắc pháp lý được xác định trước mà không cần tham chiếu đến các cân nhắc xã hội;
- Các phán quyết đạo đức, không giống như các tuyên bố về thực tế, không thể được thiết lập hoặc bảo vệ bằng lập luận hợp lý, bằng chứng hoặc bằng chứng ("chủ nghĩa không công nhận" trong đạo đức).
Về mặt lịch sử, pháp lý thuyết thực chứng đối lập với lý thuyết luật học của luật tự nhiên , đặc biệt không đồng ý ement xung quanh tuyên bố của luật sư tự nhiên rằng có một mối liên hệ cần thiết giữa luật pháp và đạo đức.

4. Giá trị pháp lý và các nguồn luật của chủ nghĩa thực chứng pháp lý

Theo quan điểm của chủ nghĩa thực chứng, nguồn luật là việc thiết lập luật đó bởi một số cơ quan pháp luật được xã hội thừa nhận. Giá trị của một luật là một vấn đề riêng biệt: nó có thể là một 'luật xấu' theo một số tiêu chuẩn, nhưng nếu nó được thêm vào hệ thống bởi một cơ quan hợp pháp, nó vẫn là một luật.
Từ điển Bách khoa Triết học Stanford tóm tắt sự khác biệt giữa giá trị và nguồn gốc như vậy: "Thực tế là một chính sách sẽ công bằng, khôn ngoan, hiệu quả hoặc thận trọng không bao giờ là lý do đủ để nghĩ rằng nó thực sự là luật, và thực tế rằng nó không công bằng, không khôn ngoan, kém hiệu quả hoặc thiếu thận trọng không bao giờ là lý do đủ để nghi ngờ nó. Theo chủ nghĩa thực chứng, luật pháp là vấn đề của những gì đã được đặt ra (ra lệnh, quyết định, thực hành, dung thứ, v.v.); như chúng ta có thể Nói một cách thành ngữ hiện đại hơn, chủ nghĩa thực chứng là quan điểm cho rằng luật pháp là một công trình xây dựng xã hội. "
Chủ nghĩa thực chứng pháp lý không cho rằng các luật lệ được xác định như vậy phải được tuân theo, hoặc rằng nhất thiết phải có giá trị khi có (mặc dù một số nhà thực chứng cũng có thể đưa ra những tuyên bố này). Thật vậy, các luật của hệ thống pháp luật có thể khá bất công, và nhà nước có thể khá bất hợp pháp; kết quả là, có thể không có nghĩa vụ phải tuân theo họ. Hơn nữa, thực tế là một luật đã được tòa án xác định là có hiệu lực không đưa ra bất kỳ hướng dẫn nào về việc liệu tòa án có nên áp dụng luật đó trong một trường hợp cụ thể hay không. Như John Gardner đã nói, chủ nghĩa thực chứng pháp lý là "tính quy luật trơ"; nó là một lý thuyết về luật, không phải là một lý thuyết về thực hành pháp lý, xét xử, hoặc nghĩa vụ chính trị. Các nhà thực chứng pháp lý tin rằng sự rõ ràng về trí tuệ đạt được tốt nhất bằng cách để lại những câu hỏi này để điều tra riêng.

5. Tiền đề của chủ nghĩa thực chứng pháp lý

Tiền đề chính của chủ nghĩa thực chứng pháp luật là Chủ nghĩa kinh nghiệm , những nhà tư tưởng có phạm vi từ Sextus Empiricus , Thomas Hobbes , John Locke , George Berkeley , David Hume và Auguste Comte . Ý tưởng chính của chủ nghĩa kinh nghiệm là tuyên bố rằng tất cả kiến ​​thức về thực tế phải được xác thực bằng kinh nghiệm cảm giác hoặc được suy ra từ các mệnh đề xuất phát một cách rõ ràng từ dữ liệu giác quan. Xa hơn nữa, chủ nghĩa kinh nghiệm đối lập với siêu hình học; chẳng hạn, Hume bác bỏ siêu hình học chỉ là suy đoán ngoài những gì có thể học được từ kinh nghiệm giác quan. Những lời dạy của những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm đi trước hệ thống hóa một phương pháp thực chứng cho các vấn đề về lĩnh hội và phân tích, mà sau này được đại diện bởi chủ nghĩa thực chứng pháp lý.
Các nhà thực chứng logic như Rudolf Carnap và A. J. Ayer đề xuất một nguyên lý quan trọng khác của chủ nghĩa thực chứng pháp lý: đó là, các mệnh đề và cách sử dụng từ ngữ phải được kiểm tra để hiểu thực tế. Một câu có ý nghĩa theo nghĩa đen nếu và chỉ khi, nó diễn đạt một điều gì đó có thể phản bác hoặc kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên hoặc các nội dung khác liên quan tới giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án, Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê