- 1. Xem xét tôn giáo, tín ngưỡng một cách toàn diện, trên quan điểm lịch sử cụ thể
- 2. Tôn trọng người sáng lập ra các tôn giáo, đánh giá cao vai trò của các bậc “chí tôn”
- 3. Sự tồn tại của tôn giáo là một tất yếu lịch sử
- 4. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa vấn đề tôn giáo - dân tộc
- 5. Nhiệm vụ của công tác tôn giáo là để đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc
Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên hệ thống quan điểm về tôn giáo, tín ngưỡng rất phong phú, đa dạng, độc đáo, sáng tạo, góp phần to lớn vào thắng lợi của công tác tôn giáo nói riêng và sự nghiệp cách mạng nói chung. Quan điểm đó được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:
1. Xem xét tôn giáo, tín ngưỡng một cách toàn diện, trên quan điểm lịch sử cụ thể
Tôn giáo và tín ngưỡng được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét dưới góc độ văn hóa, triết học và đạo đức. Đối với tôn giáo, ngay từ năm 1943, trong mục đọc sách của tập Nhật ký trong tù, Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”(1). Tuy khẳng định “tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật”(2), nhưng theo Người, trong văn hóa và đạo đức tôn giáo “Cái gì tốt thì ta nên khôi phục và phát triển, còn cái gì xấu, thì ta phải bỏ đi”(3), điều này đã thể hiện sâu sắc quan điểm lịch sử cụ thể trong xem xét, đánh giá về tôn giáo của Người.
Đối với tín ngưỡng truyền thống của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn giáo theo cách nghĩ của châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội… Những người già trong gia đình hay các già bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng niệm”(4). Tuy một số chức sắc, tín đồ tôn giáo có những hành động làm phương hại đến khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng “phần lớn đồng bào tôn giáo… đều yêu nước kháng chiến”(5) và dù là lương hay giáo thì nhân dân ta đều tốt cả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã tập trung nghiên cứu về Kitô giáo trong bối cảnh cuộc đấu tranh tư tưởng đang diễn ra gay gắt ở phương Tây, trong khi Hồ Chí Minh là người đã rất tường tận và chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa, tín ngưỡng của phương Đông. Từ nhận thức đó, Người đã tiếp cận và giải quyết thỏa đáng các vấn đề liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam để phục vụ sự nghiệp cách mạng.
2. Tôn trọng người sáng lập ra các tôn giáo, đánh giá cao vai trò của các bậc “chí tôn”
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng, khâm phục tinh thần hy sinh cao cả của những người sáng lập ra Phật giáo, Kitô giáo. Người nói: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đức Chúa Trời;... Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng”(6).
Người luôn ca ngợi tấm lòng bác ái cao cả của Chúa, tinh thần từ bi, hỷ xả, cứu độ chúng sinh của Phật và cho rằng mục đích cao cả của các vị ấy giống nhau ở chỗ họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”(7). Người nhận thức rõ những điểm khác biệt của từng tôn giáo và chấp nhận nó như một phần tất yếu của sự nghiệp cách mạng; đồng thời đã khai thác và phát huy triệt để những điểm tương đồng trong quan điểm tư tưởng của các bậc “chí tôn” để thu hút, động viên, tập hợp quần chúng theo đạo cùng đoàn kết để tiến hành sự nghiệp cách mạng. Người đã gắn nhiệm vụ cách mạng với lý tưởng của những người sáng lập ra các tôn giáo một cách hài hòa, tự nhiên, thể hiện một phương pháp cách mạng độc đáo mang đậm phong cách Hồ Chí Minh.
3. Sự tồn tại của tôn giáo là một tất yếu lịch sử
Từ sự phân tích, đánh giá chính xác các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, trong điều kiện tình hình thế giới và trong nước đang có những diễn biến hết sức phức tạp, Người vẫn khẳng định tôn giáo đã và đang tồn tại tất yếu dưới chủ nghĩa xã hội. Trả lời câu hỏi của cử tri Hà Nội: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?”, Người khẳng định rõ: “Không. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam ta cũng vậy”(8). Điều đó lý giải quan điểm của Hồ Chí Minh rằng: trên con đường cách mạng của dân tộc ta luôn có sự tham gia, đồng hành của đồng bào các tôn giáo, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh thế giới đang mâu thuẫn gay gắt giữa duy vật và duy tâm, vô thần và hữu thần, tôn giáo và khoa học… ở nửa đầu thế kỷ XX, còn trong nước thì những tư tưởng mặc cảm, định kiến từ hai phía: chức sắc, tín đồ Thiên Chúa giáo với cán bộ, đảng viên, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức một cách sâu sắc về sự tồn tại và đồng hành của tôn giáo với dân tộc cho thấy Người đã vượt xa tầm nhìn hạn hẹp, định kiến với tôn giáo của không ít người đương thời để đạt đến tầm cao mới nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng.
4. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa vấn đề tôn giáo - dân tộc
Trên cơ sở nhận thức rõ Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo, mỗi tôn giáo tuy có lịch sử hình thành, du nhập, số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, vị trí vai trò xã hội và đặc điểm khác nhau, nhưng mọi tôn giáo đều tồn tại trong lòng dân tộc và do đó lợi ích của từng tôn giáo cũng gắn liền với lợi ích của quốc gia, dân tộc… nên Hồ Chí Minh rất quan tâm đến mối quan hệ đặc biệt này. Người cho rằng: đối với người Công giáo, không có gì vui mừng hơn khi họ vừa là con chiên ngoan đạo, vừa là người yêu nước theo tinh thần “kính Chúa – yêu nước”, “phụng sự Thiên Chúa – phụng sự Tổ quốc”, “nước có vinh thì đạo mới sáng”, “nước có độc lập thì đạo mới được tự do”, “Thượng đế và Tổ quốc muôn năm!”(9) … Theo Người, đối với đồng bào theo đạo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nước luôn thống nhất với nhau. Một người dân Việt Nam yêu nước đồng thời cũng chính là một tín đồ chân chính và ngoan đạo, ngược lại, một kẻ chống lại dân tộc, Tổ quốc mình thì cũng chính là một kẻ phản Chúa. Trong bài báo Tuyên truyền cộng sản đăng trên Báo Cứu Quốc số 2046 ra ngày 01/4/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Những người Công giáo Việt Nam theo Pháp và bù nhìn, làm hại đồng bào, chẳng những là Việt gian, mà cũng là giáo gian. Còn những đồng bào Công giáo kháng chiến mới là tín đồ chân chính của Đức Chúa, vì những đồng bào ấy thật thà phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc”(10); đồng thời yêu cầu người Công giáo tốt phải là người công dân tốt, kính Chúa và yêu nước vừa là trách nhiệm công dân, vừa là bổn phận con Chúa.
Ở một quốc gia đa tôn giáo như nước ta, dù là trong cách mạng giải phóng dân tộc hay cách mạng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề dân tộc và tôn giáo vẫn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Không có độc lập dân tộc thì sẽ không có giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và ngay cả tôn giáo cũng không có tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã. Người nói: “Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang”(11). Trong mối quan hệ đó thì vấn đề dân tộc luôn được ưu tiên đặt lên hàng đầu, tuy nhiên Người không tuyệt đối hóa vấn đề dân tộc, xem nhẹ vấn đề tôn giáo mà thường giải quyết mối quan hệ này một cách thỏa đáng, tạo cơ sở để sau này giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hướng gắn bó việc đạo với việc đời, tôn giáo với dân tộc như: “Đạo pháp – Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Thiên Chúa giáo; “Nước vinh, Đạo sáng” của Cao Đài giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” của Tin Lành giáo; “Chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” của Phật giáo Hòa Hảo…
5. Nhiệm vụ của công tác tôn giáo là để đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc
Một trong những tư tưởng đặc sắc và đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh vào sự phát triển lý luận Mác-Lênin về tôn giáo là đã xác định: mục đích cao nhất, nội dung xuyên suốt của công tác tôn giáo là để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo, đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc tôn giáo khác nhau, làm cho “nước vinh, đạo sáng”, “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần ngày càng to lớn vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Cho nên, ngay cả những lúc vận mệnh của cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn xác định một trong sáu nhiệm vụ cấp bách đầu tiên mà Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa phải thực hiện là: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”(12). Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo, Người đã chỉ ra sự đồng thuận giữa mục tiêu của cách mạng với mục đích của những người sáng lập tôn giáo. “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”(13) và với trách nhiệm của người đứng đầu Nhà nước, Người khẳng định rõ: “…những việc chính phủ và nhân dân ta làm, đều hợp với tinh thần Phúc âm”(14). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân làm hết sức mình, kể cả hy sinh xương máu để giữ gìn sự đoàn kết đó, đồng thời phê phán sâu sắc cách nhìn thiển cận trong xây dựng khối đoàn kết lương giáo. Người cho rằng: “Tư tưởng hẹp hòi thì hành động cũng hẹp hòi. Tư tưởng hẹp hòi thì nhiều thù mà ít bạn (như vấn đề tôn giáo). Người mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp. Đoàn thể mà hẹp hòi thì không phát triển”(15).
Ghi chú:
(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.2011, tr.458.
(2),(14) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 8, tr.200, tr.374.
(3),(8) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 11, tr.557, tr.405.
(4) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 1, tr.463.
(5),(10) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 7, tr.394, tr.375.
(6),(9),(12) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 4, tr.169, tr.544, tr.8.
(7) Dẫn theo Hồ Chí Minh truyện, bản dịch Trung văn của Trương Niệm Thức, Bát Nguyệt xuất bản xã, Thượng Hải, 6/1949.
(11),(13),(15) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 5, tr.228, tr.228, tr.93.