1. Karl Popper: cuộc đời và sự nghiệp

Karl Popper là người mang dòng dõi Do Thái nhưng gia đình lại theo đạo Cơ Đốc giáo, ông sinh ngày 28 tháng 6 năm 1902 tại Viên, Áo. Karl Popper lớn lên trong một gia đình mà sách và âm nhạc luôn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống. Cha của Karl Popper là Simon Carl Siegmund (1856-1932), là một tiến sĩ luật của Đại học Vienna. Mẹ của Popper là Jenny Schiff (1864-1938), bà xuất thân từ một gia đình âm nhạc. Trong thời thơ ấu của Popper, gia đình ông có cuộc sống khá thịnh vượng. Khi còn là một cậu bé, Karl Popper là người luôn biết quan tâm đến những người xung quanh, đặc biệt là những người khốn khổ, nghèo khó ở Vienna. Ngay từ khi còn trẻ ông đã chú ý đến các câu hỏi về triết học. Năm 1928, Popper đã hoàn thành luận án tiến sĩ triết học với đề tài: “Vấn đề phương pháp trong tâm lý học tư duy”. Năm 1937, Karl Popper đến New Zealand và giảng dạy triết học như một giảng viên cao cấp tại Đại học Canterbury. Năm 1958 Karl Popper đã trở thành một thành viên của Học viện Anh và trong 1958-1959 ông là Chủ tịch Hội Aristotle. Karl Popper đã được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ (Knight) vào năm 1965 và trở thành thành viên Hội Hoàng gia vào năm 1976.

2. Tổng quan về tác phẩm “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử”

Toàn bộ nội dung chính cuốn sách được chia làm 4 phần, không kể các phần chú thích về niên biểu, lời tựa và phần dẫn nhập.

Phần I: Các luận thuyết phản tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử

Phần II: Các luận thuyết duy tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử

Phần III: Phê phán các luận thuyết phản tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử

Phần IV: Phê phán các luận thuyết duy tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử

3. Khái niệm của Karl Popper về chủ nghĩa lịch sử

Thuật ngữ “historicism” (tiếng Anh) mà K. Popper dùng được dịch ra tiếng Việt bằng nhiều từ khác nhau như: “chủ nghĩa lịch sử” (bản dịch của Nguyễn Quang A), “thuyết sử luận” (bản dịch của Chu Lan Đình), “lịch sử luận” của một số nhà nghiên cứu khác. Theo chúng tôi, “chủ nghĩa lịch sử” là thuật ngữ tương đối chính xác và dễ hiểu hơn đối với nhiều người, vì nó có gốc từ history (lịch sử) và hậu tố ism (chủ nghĩa). Khái niệm “lịch sử” trong triết học có nghĩa là xã hội, phân biệt với tự nhiên; chủ nghĩa duy vật lịch sử (thuật ngữ của Mác) là chủ nghĩa duy vật về xã hội. Ph. Ăngghen đã từng giải thích rằng sở dĩ người ta đồng nhất xã hội với lịch sử vì trước đây người ta cho rằng chỉ có xã hội mới có lịch sử, còn tự nhiên thì vĩnh viễn như vậy không có lịch sử. Theo K. Popper, chủ nghĩa lịch sử không phải là một trường phái (vì nó nằm trong nhiều trường phái, học thuyết khác nhau). Chủ nghĩa lịch sử là một cách tiếp cận về xã hội, có thể là duy tâm hay duy vật cho nên được Popper áp dụng cho cả Hêraclit, Platon, Hêghen, Mill và Mác. Qua việc đọc toàn bộ tác phẩm này của K. Popper, chúng tôi thấy rằng khái niệm “historicism” (chủ nghĩa lịch sử) của K. Popper có thể được hiểu như sau: Chủ nghĩa lịch sử là một cách tiếp cận về xã hội, bằng cách phát hiện ra những cấu trúc, mô hình, quy luật phát triển của xã hội người ta có thể dự báo (tiên đoán) chính xác về sự tồn tại và phát triển của nó trong tương lai, trên cơ sở đó người ta vạch ra những kế hoạch để cải biến, xây dựng toàn bộ xã hội của mình theo những dự báo đã được đưa ra. K. Popper phân chủ nghĩa lịch sử thành hai loại: chủ nghĩa lịch sử trong các luận thuyết phản tự nhiên và chủ nghĩa lịch sử trong các luận thuyết duy tự nhiên.

4. Sự phân tích của Karl Popper về chủ nghĩa lịch sử trong các học thuyết phản tự nhiên

 Quan điểm của các học thuyết phản tự nhiên chủ nghĩa thể hiện qua sự phản đối của họ đối với việc vận dụng các phương pháp khoa học tự nhiên vào khoa học xã hội. Trong chương 1. Những học thuyết phản tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử, K. Popper đã tiến hành phân tích các luận điểm cơ bản. Những học thuyết này căn cứ vào mấy điểm sau đây để cho rằng xã hội hoàn toàn khác với tự nhiên nên không thể áp dụng các phương pháp của khoa học tự nhiên vào nghiên cứu lịch sử:

Một là, không thể thực hiện phương pháp khái quát hóa trong nghiên cứu lịch sử lâu dài

Hai là, không thể tiến hành phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu xã hội.

Ba là, những sự kiện xã hội luôn luôn là những sự kiện “mới” và “đơn nhất”.

Bốn là, đời sống xã hội có tính phức hợp hơn giới tự nhiên.

Năm là, khó có thể tiên đoán một cách chính xác các sự kiện xã hội.

Sáu là, do những lý do trên, không thể đảm bảo tính khách quan trong sự đánh giá và nghiên cứu các hiện tượng xã hội.

Bảy là, do xã hội là một cơ cấu phức hợp nên nghiên cứu xã hội phải đứng trên quan điểm chỉnh thể.

Tám là, trong nghiên cứu xã hội không thể áp dụng các phương pháp vật lý học (bằng quan sát, thực hiện mới rút ra kết luận), mà chỉ có thể áp dụng phương pháp trực giác.

Chín là, không thể áp dụng phương pháp định lượng trong nghiên cứu xã hội.

Mười là, Popper cho rằng chủ nghĩa lịch sử thuộc chủ nghĩa bản chất (tức chủ nghĩa duy thực).

Tóm lại, đặc trưng của chủ nghĩa lịch sử trong các học thuyết phản tự nhiên chủ nghĩa được K. Popper khái quát lại trong nhiều điểm để lần lượt phê phán nó, nhưng đồng thời cũng sử dụng nó để chống lại chủ nghĩa lịch sử trong các học thuyết thân tự nhiên chủ nghĩa, nhằm mục đích của ông là bác bỏ khả năng nghiên cứu xã hội một cách chính xác, nhất là vạch ra quy luật phát triển, dự báo tương lai và vạch ra kế hoạch để cải tạo xã hội một cách chủ quan.

5. Sự phân tích của Karl Popper về chủ nghĩa lịch sử trong các học thuyết duy tự nhiên

Trong nghiên cứu của mình, Popper thấy rằng, chủ nghĩa lịch sử duy tự nhiên hay chủ nghĩa tự nhiên mở rộng cho rằng có thể vận dụng những phương pháp của khoa học tự nhiên vào xã hội vì rằng khoa học tự nhiên và khoa học xã hội chẳng qua là sự phân nhánh của tri thức. Tất cả đều nhằm mục đích đạt đến tri thức kinh nghiệm và lý luận. Khác với các học thuyết phản tự nhiên, các học thuyết thân tự nhiên chủ nghĩa thừa nhận cơ sở quan sát trong nghiên cứu xã hội. Một đặc điểm khác của chủ nghĩa lịch sử trong các học thuyết duy tự nhiên chủ nghĩa là thừa nhận tiên tri xã hội nhưng bác bỏ khả năng kiến tạo xã hội mới. Như vậy theo K. Popper, chủ nghĩa lịch sử loại thứ hai này (duy tự nhiên chủ nghĩa) tất yếu sẽ dẫn đến thuyết định mệnh, vì theo nó, xã hội đã được an bày bởi những quy luật bất di bất dịch rồi, ý chí của con người không thể thay đổi được gì, chỉ có thể giải thích nó và chỉ “có thể giúp rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ."

6. Sự phê phán của Karl Popper về chủ nghĩa lịch sử nói chung

Sự phê phán chung cho cả hai thể loại của chủ nghĩa lịch sử tập trung ở việc bác bỏ khả năng tiên đoán lịch sử (hay tiên tri xã hội). K. Popper dùng một lập luận lôgic gồm năm điểm như sau:

- Tiến trình lịch sử nhân loại bị ảnh hưởng rất mạnh bởi sự tăng tiến của tri thức nhân loại…

- Bằng những phương pháp lý tính hoặc những phương pháp khoa học, chúng ta cũng không thể tiên đoán được sự tăng tiến của tri thức khoa học trong tương lai...

(3) Bởi vậy, chúng ta không thể tiên đoán được tiến trình tương lai của lịch sử nhân loại.

(4) Điều đó có nghĩa là chúng ta phải loại bỏ khả năng có một môn lịch sử lý thuyết, tức là một khoa học về lịch sử xã hội tương đương môn vật lý lý thuvết.

(5) Mục đích cơ bản của những phương pháp lịch sử chủ nghĩa… do đó đã bị hiểu sai; và chủ nghĩa lịch sử như vậy là sụp đổ. K. Popper nói tiếp: “Tôi chứng minh bằng cách chỉ ra rằng không có một nhà tiên tri khoa học nào - dù đó là một nhà khoa học bằng xương bằng thịt hay một cỗ máy tính - có khả năng bằng những phương pháp khoa học tiên đoán được những kết quả trong tương lai của chính mình.” Theo ông, chỉ có thể nói được những điều đã xảy ra rồi mà thôi. Tuy nhiên, K. Popper cũng giải thích rằng ông không có ý định bác bỏ mọi khả năng dự báo, như dự báo về kinh tế - xã hội trong một điều kiện cụ thể nhất định. Nổ lực của ông chỉ nhằm bác bỏ khả năng tiên đoán tương lai lâu dài của xã hội khi đã có bước nhảy trong sự phát triển của khoa học.

7. Sự phê phán khuynh hướng phản tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử

Tác phẩm “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử” là một lời chỉ trích và phê phán liên tục về thuyết sử luận, nó được trình bày như một công trình trí tuệ, trong khi “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” (The open Society and Its Enemies, 1945) lại chỉ trích những vấn đề nền tảng trong chủ nghĩa lịch sử. Ông đã đề cao mục đích thực tiễn của công việc phê phán.

Trong quá trình thực hiện công việc phê phán của mình đối với chủ nghĩa lịch sử, Karl Popper đã tập trung vào những luận điểm cơ bản sau:

Một là, Karl Popper phê phán và bác bỏ cách tiếp cận và phương pháp chỉnh thể (holism).

Hai là, Karl Popper chủ trương xây dựng phương pháp từng phần đối lập với phương pháp chỉnh thể luận là phương pháp nghiên cứu và dự báo của chủ nghĩa lịch sử, điều mà ông cho rằng đã trở nên không tưởng.

Ba là, Karl Popper phê phán về quan điểm cho rằng không thể thực hiện thực nghiệm trong nghiên cứu xã hội.

Bốn là, K. Popper đã phê phán “Không tưởng” và cho rằng: sự liên minh giữa chủ nghĩa lịch sử với thuyết chỉnh thể là một liên minh tội lỗi và việc không thừa nhận thực nghiệm xã hội tất yếu dẫn đến “Không tưởng”.

8. Karl Popper phê phán khuynh hướng duy tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử

Khi phê phán khuynh hướng duy tự nhiên của chủ nghĩa lịch sử, Karl Popper đã tập trung phê phán trên một số luận điểm cơ bản thể hiện tư tưởng triết học của mình.

- Thứ nhất, Karl Popper phê phán việc tiên đoán sự phát triển của xã hội dựa trên thuyết tiến hóa và xem đó là định luật phát triển xã hội.

- Thứ hai, Theo K. Popper, tiến hóa chỉ là một xu thế cá biệt, không phải là một định luật phổ quát. Chính vì sự hiểu lầm xu thế cá biệt thành định luật tiến hóa nên chủ nghĩa lịch sử đã dựa vào đấy để đưa ra những tiên đoán lịch sử. K. Popper cảnh báo nguy hại của cách tiếp cận này là làm nảy sinh một loạt ý tưởng về “sự dự báo dài hạn” và “những dự báo quy mô lớn”. Ông cho rằng, quan điểm này, chủ trương này là một hình thức đặc thù của thuyết định mệnh, nó như là thuyết định mệnh về xu thế lịch sử.

- Thứ ba: Từ việc khẳng định trong đời sống xã hội chỉ có những xu thế và xu thế không phải là quy luật, K. Popper bác bỏ khả năng phát hiện ra quy luật xã hội và khả năng tiên đoán xã hội

- Thứ tư, theo K. Popper, sự ngộ nhận tiến hóa thành quy luật là do bỏ qua những điều kiện cụ thể, ban đầu của một quá trình tiến hóa cụ thể nào đó.

- Thứ năm, K. Popper đã đưa ra quan điểm của mình về sự thống nhất trong phương pháp tiếp cận trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

- Thứ sáu, Ngoài những hạn chế, bất cập của chủ nghĩa lịch sử đã được K. Popper phê phán, trong sự phân tích của ông còn chứa đựng việc công nhận những yếu tố hợp lý, những điểm đáng được hoan nghênh và những thành tích đáng được thừa nhận