Khái niệm Xã hội mở (tiếng Anh: open society) được Henri Bergson (1859 - 1941) dùng đầu tiên năm 1932. Nhưng phải chờ hơn 10 năm sau, đến năm 1943, khi Karl Popper (1902 - 1992), nhà triết học khoa học, cho xuất bản cuốn "Xã hội mở và những kẻ thù của nó" thì thuật ngữ này mới trở nên phổ biến. Trong đó, Karl Popper nhận định, không ai có thể đạt tới chân lý cuối cùng, lý tưởng về một xã hội hoàn hảo cũng không thể thực hiện, vì thế, nhân loại phải chấp nhận ưu tiên thứ hai, đó là mô hình xã hội không hoàn hảo nhưng nó có khả năng cải tạo khôn cùng, mà ông gọi là "xã hội mở", được đánh dấu bằng một thái độ phê phán đối với truyền thống.

Trong các xã hội mở, chính phủ được mong đợi là sẽ đáp ứng (responsive) và khoan dung, và các cơ chế chính trị phải minh bạch và linh hoạt. Những người ủng hộ cho rằng nó đối ngược với "xã hội đóng".

 

1. Phê phán xã hội đóng

Mục đích trung tâm trong Xã hội mở và những kẻ thù của nó cũng như Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử là đi giải thích nguồn gốc và bản chất của chủ nghĩa toàn trị. Cụ thể là, với sự vươn lên của chủ nghĩa phát xít, bao gồm cả ở nước Áo quê hương ông, và theo sau đó là Chiến tranh thế giới thứ hai đã thúc đẩy Popper bắt đầu viết hai tác phẩm này vào cuối những năm 1930 và đầu 1940 khi ông đang giảng dạy tại New Zealand. Ông miêu tả các tác phẩm này là một “nỗ lực chiến đấu” của ông.

Các luận điểm trong hai tác phẩm có nhiều sự trùng lặp. Tuy nhiên có một sự khác biệt quan trọng. Sự nghèo nàn của thuyết chủ nghĩa lịch sử chủ yếu quan tâm đến phương pháp luận của các khoa học xã hội, và cụ thể là, làm thế nào một ý tưởng không hoàn chỉnh, được Popper đặt tên cho là “chủ nghĩa lịch sử”, lại dẫn các nhà lịch sử và các nhà khoa học xã hội chệch khỏi con đường đúng đắn về mặt phương pháp luận, đồng thời phục vụ như một sự trợ giúp cho sự chuyên chế.  Xã hội mở, một tác phẩm dài hơn, và theo Popper, là một tác phẩm quan trọng hơn, bao gồm một sự thảo luận sâu sắc về chủ nghĩa lịch sử và phương pháp luận của các khoa học xã hội. Tuy nhiên nó cũng nổi bật như là một nghiên cứu về các nguồn gốc tâm lý và lịch sử của chủ nghĩa toàn trị, chủ nghĩa mà ông đặt ở trung tâm của một tập hợp các tư tưởng hấp dẫn nhưng sai lầm. Các tư tưởng này, bên cạnh chủ nghĩa lịch sử, còn có “thuyết toàn thể” và “thuyết bản chất” như ông gọi chúng. Khi kết hợp với nhau, chúng tạo thành nền tảng triết lý cho điều mà Popper gọi là “xã hội đóng”. “Xã hội đóng” là thứ đã dẫn đến chủ nghĩa toàn trị.

 

2. Xã hội mở chống lại xã hội đóng

Theo Popper, chủ nghĩa toàn trị không phải chỉ có trong thế kỉ 20. Mà đúng hơn, nó “thuộc về một truyền thống cũng cổ xưa như chính nền văn minh của chúng ta”. Trong Xã hội mở, sự truy tìm của Popper đối với gốc rễ của chủ nghĩa toàn trị đưa ông trở về với Hi lạp cổ đại. Ở đó ông phát hiện ra sự xuất hiện của điều mà ông gọi là “xã hội mở” đầu tiên, đó chính là nền dân chủ của Athens ở thế kỉ thứ 5 trước công nguyên. Ông cho rằng, người Athen là những người đầu tiên đòi hỏi các giá trị, niềm tin, thiết chế và truyền thống của mình phải chịu một sự khảo sát phê phán, và Socrates và đời sống chính trị dân chủ của thành bang chính là điển hình cho thái độ mới này. Nhưng các lượng lương phản động cảm thấy khó chịu với sự bất ổn định và sự thay đổi nhanh chóng mà một xã hội mở tạo ra (Socrates bị kết tội làm suy đồi thanh niên và giới thiệu các vị thần mới). Họ tìm cách ngăn cản sự phát triển và đưa Athens trở về với một xã hội với hệ thống giai cấp cứng nhắc, tuân thủ theo truyền thống bộ tộc, và bảo vệ một cách không suy xét đối với thẩm quyền và truyền thống – một “xã hội đóng”. Sự quay trở lại với chủ nghĩa bộ lạc này được thúc đẩy bởi một sự lo lắng sâu rộng mà Popper gọi là “sự căng thẳng của văn minh”. Tính trật tự và hữu cơ của các xã hội đóng giúp thỏa mãn một nhu cầu sâu sắc của con người đó là trật tự và một đời sống chung được chia sẻ. Trái lại, chủ nghĩa cá nhân, sự tự do và trách nhiệm cá nhân mà một xã hội mở tất yếu mang lại gây ra các cảm giác biệt lập và lo âu, và sự lo âu này, theo Popper, chắc chắn phải phát sinh khi chúng ta thụ hưởng các lợi ích to lớn của đời sống trong một xã hội mở: tự do, tiến bộ xã hội, tăng tiến tri thức, và tăng cường hợp tác. “Đó là cái giá mà chúng ta phải trả để trở nên văn minh”.

Popper buộc tội rằng chính Plato là người bảo vệ hàng đầu về mặt triết lý đối với một xã hội đóng, và trong quá trình đó đã trải ra các nền tảng cho chủ nghĩa toàn trị. Phản bội tính cách cởi mở và phê phán của thầy mình là Socrates, thông qua tác phẩm Cộng hòa, Plato đã phát minh ra một hệ thống phức tạp trong đó bóp nghẹt mọi sự thay đổi chính trị và xã hội, đồng thời biến triết học thành một công cụ để củng cố uy quyền chứ không phải để thách thức uy quyền. Hệ thống này cũng làm đảo ngược trào lưu của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa quân bình đã xuất hiện trong nền dân chủ Athen, thiết lập một hệ thống tôn ti trật tự mà sự tự do và các quyền của cá nhân bị hi sinh cho các nhu cầu tập thể.

Popper nhận xét rằng cái nhìn không tưởng của Plato trong tác phẩm Cộng hòa một phần được truyền cảm hứng từ Sparta, kẻ thù của Athen trong cuộc chiến Peloponnesian, mà theo Popper, là một điển hình của xã hội đóng. Xã hội Sparta hầu như chỉ tập trung vào hai mục tiêu: ổn định bên trong và khả năng quân sự. Để đạt được hai mục tiêu này, tổ chức của Sparta tìm cách tạo ra một xã hội chiến binh, giống như tổ chức của ong, vốn luôn luôn ưu tiên cho nhu cầu tập thể trên nhu cầu cá nhân và đòi hỏi một sự kiểm soát toàn bộ các công dân của nó. Điều này bao gồm thuyết ưu sinh cổ xưa, trong đó những đứa trẻ mới sinh ra mà không đủ sức mạnh sẽ bị ném vào giếng nước. Đàn ông Sparta phải đủ sức khỏe quy định để đảm bảo cho một đời sống xuất sắc, vì vậy họ bị tách khỏi gia đình khi còn trẻ, và được giáo dục chủ yếu theo kiểu quân đội.

Sự giáo dục như vậy tạo ra các chiến binh đáng sợ, những người không sợ đau đớn, phục tùng quyền lực, và trung thành vô điều kiện với thành bang. Chiến đấu cho thành bang là danh dự duy nhất được thừa nhận đối với các công dân nam, trong khi các công việc cực nhọc thấp kém như trồng trọt là số phận được dành riêng cho các bộ tộc nô lệ của Hilap, và các nô lệ khác. Sự kiểm duyệt tuyệt đối áp đặt lên các công dân, cũng như luật pháp giới hạn nghiêm ngặt sự tiếp xúc với người nước ngoài. Dưới hệ thống này, Sparta trở thành thế lực quân sự chi phối trong xã hội Hilap cổ, nhưng không ngạc nhiên khi nó không có đóng góp quan trọng gì về khoa học và nghệ thuật. Popper miêu tả Sparta như là một “bộ lạc bắt giữ” tìm cách cản trở “sự quân bình, dân chủ, và các ý thức hệ cá nhân” xuất hiện ở Athen. Ông nói rằng không phải ngẫu nhiên khi những kẻ phát xít và những kẻ toàn trị ngày nay cũng được truyền cảm hứng từ Sparta.

 

3. Thuyết toàn thể, Thuyết bản chất, Chủ nghĩa lịch sử

Popper chỉ ra ba giả định triết học sâu sắc làm cơ sở cho sự bảo vệ của Plato đối với xã hội đóng, và cũng là cơ sở bảo vệ sau đó đối với xã hội đóng trong hai thiên niên kỉ kế tiếp. Những ý tưởng này là thuyết toàn thể, thuyết bản chất, và chủ nghĩa lịch sử.

Thuyết toàn thể được định nghĩa theo quan điểm sau: để hiểu đầy đủ về dạng thực thể nào đó đòi hỏi phải hiểu chúng như là một toàn thể. Điều này thường được cho là đúng đối với các hệ thống sinh học và xã hội, chẳng hạn, một tổ chức hữu cơ, một hệ sinh thái, một nền kinh tế, hay một nền văn hóa. Hệ quả theo sau từ quan điểm này là những thực thể như vậy có các tính chất mà không thể giảm trừ cho các bộ phận cấu thành thực thể. Chẳng hạn, một số triết gia cho rằng ý thức con người là một hiện tượng mà các tính chất của nó không thể chỉ được giải thích bằng các tính chất của các thành phần vật chất (tế bào thần kinh, chất dẫn truyền thần kinh…) cấu thành não người. Tương tự, những người ủng hộ cách tiếp cận toàn thể để nghiên cứu xã hội cho rằng thực thể xã hội không thể giảm trừ tới các tính chất của các cá nhân cấu thành xã hội. Nghĩa là, họ bác bỏ chủ nghĩa các nhân phương pháp luận và ủng hộ chủ nghĩa toàn thể phương pháp luận, như lời Popper.

Theo Popper, thuyết toàn thể của Plato được phản ánh trong quan điểm của ông cho rằng thành bang – thành bang Hilap – có một địa vị ưu tiên, và theo một nghĩa nào đó, là có tính hiện thực hơn so với các cá nhân cư ngụ trong nó. Với Plato, “chỉ một toàn thể ổn định, vĩnh cửu là thực tồn, chứ không phải các cá nhân ngắn ngủi”. Quan điểm này một lần nữa hàm ý là thành bang có các nhu cầu thực quan trọng hơn nhu cầu của các cá nhân và do đó mang lại nguồn gốc của chủ nghĩa tập thể đạo đức của Plato. Theo Popper, Plato tin rằng một xã hội công bằng đòi hỏi cá nhân phải hi sinh nhu cầu của mình cho lợi ích của nhà nước. Ông viết “công bằng đối với Plato không là gì khác ngoài sức mạnh, thống nhất và ổn định của cơ thể tập thể”. Theo Popper, điều này là một mối đe dọa nghiêm trọng. Ông nói, trong thực tế, quan điểm cho rằng nhu cầu của một thực thể tập thể - ví dụ như, thành phố, quốc gia, xã hội, hay chủng tộc là có trước và có địa vị cao hơn so với nhu cầu của các cá nhân sống thực là một nguyên lý đạo đức trung tâm của tất cả các hệ thống toàn trị, dù là cổ đại hay hiện đại. Chẳng hạn, Quốc xã nhấn mạnh các nhu cầu của chủng tộc Arian để bảo chữa cho các chính sách tàn bạo của họ, trong khi những người cộng sản ở Liên xô nói về các mục đích và lợi ích giai cấp như là một động cơ của lịch sử mà cá nhân phải phục tùng. Các nhu cầu của chủng tộc hay giai cấp có địa vị cao hơn các nhu cầu cá nhân. Trái lại, Popper cho rằng, các thành viên của một xã hội mở xem nhà nước và các thiết chế xã hội khác được con người thiết kế, chịu sự thẩm tra một cách phê phán, và luôn luôn phục vụ lợi ích của cá nhân – và không bao giờ ngược lại. Sự công bằng thực sự đòi hỏi sự đối xử bình đẳng giữa các cá nhân hơn là quan điểm hữu cơ của Plato trong đó công bằng được định nghĩa như là một nhà nước chức năng tốt.

Tương tự như vậy, điều khiến Plato ủng hộ một xã hội đóng là một học thuyết mà Popper gọi là “thuyết bản chất”. Gắn liền với thuyết này là yêu sách cho rằng “nhiệm vụ của nhận thức hay “khoa học” là khám phá và miêu tả bản chất thực sự của sự vật, tức là thực tại hay bản thể ẩn giấu của chúng”. Và lý thuyết của Plato về các Mô thức là điển hình cho cách tiếp cận này. Theo Plato, để hiểu về bất cứ sự vật nào – ví dụ, cái giường, hình tam giác, con người, hay thành bang – đòi hỏi phải hiểu về cái mà Plato gọi là các Mô thức. Các Mô thức là vĩnh cửu, bất biến, và là các mẫu hình hoàn hảo của các sự vật hữu hình trong thế giới của chúng ta. Để hiểu được các Mô thức, Plato tin là, phải có một sự khảo sát duy lý về bản chất của nó. Một sự hiểu như vậy có thể đạt được thông qua sự trực giác hơn là thông qua nghiên cứu kinh nghiệm. Chẳng hạn, trực giác toán học cung cấp con đường để hiểu bản chất thực sự của hình tam giác – hay, Mô thức của nó – trái với nỗ lực để hiểu bản chất của tam giác thông qua đo đạc, so sánh với các tam giác thực sự tìm thấy trong thế giới của chúng ta.

Dù các Mô thức là vĩnh cửu và bất biến, tuy nhiên Plato cho rằng các bản sao không hoàn hảo của chúng mà chúng ta gặp trong thế giới khả giác chắc chắn sẽ suy tàn theo thời gian. Plato mở rộng lý thuyết này sang các vấn đề chính trị. Theo Popper, trong thực tế, xu hướng đi đến suy tàn là một vấn đề chính trị trung tâm mà triết lý của Plato tìm cách trữa trị. Vì con người và các thiết chế mà họ tạo ra có xu hướng đi đến tàn tạ theo thời gian. Nên đối với Plato, điều này bao gồm cho các thành bang, mà ông tin là một bản sao không hoàn hảo của Mô thức thành bang. Quan điểm này về thành bang tạo ra một khoa học chính trị đặc biệt. Trước tiên, đòi hỏi phải hiểu về bản chất đúng đắn và tốt nhất của thành bang, nghĩa là, Mô thức của nó. Thứ hai, để xác định cách ngăn cản sự suy tàn của thành bang khỏi bản chất lý tưởng của nó, nghiên cứu về chính trị phải tìm cách khám phá ra các quy luật hay các nguyên tắc mà quản lý xu hướng suy tàn tự nhiên của thành bang và vì vậy kết thúc sự suy tàn của nó. Do đó lý thuyết của Plato dẫn ông đi tìm kiếm một lý thuyết về sự biến đổi của lịch sử - một lý thuyết làm cho có thể hiểu được dòng chảy liên tục của thế giới chúng ta. Nghĩa là, thuyết bản chất của Plato dẫn ông đi đến điều mà Popper gọi là “chủ nghĩa lịch sử”.

Chủ nghĩa lịch sử là quan điểm cho rằng lịch sử bị chi phối bởi các quy luật lịch sử, và ngoài ra, lịch sử còn có một hướng tất yếu và một điểm kết thúc. Nếu điều này là đúng, thì những người theo chủ nghĩa lịch sử tin rằng mục đích của triết học – và sau đó, là của lịch sử và các khoa học xã hội – là phải đi dự đoán tiến trình tương lai của xã hội thông qua việc khám phá ra các quy luật hay các nguyên tắc chi phối lịch sử. Popper nói rằng, chủ nghĩa lịch sử là một thế giới quan cổ xưa xuất hiện trước thế kỉ thứ 5 trước công nguyên ở Athen. Quan điểm về chủ nghĩa lịch sử của người Hi lạp thời điểm đó là sự phát triển của thành bang vốn dĩ và nhất thiết tuân theo chu kì: thời kì vàng son theo sau bởi sự suy tàn và sụp đổ không thể tránh được, và một lần nữa làm nền tảng cho sự tái sinh một thời kì vàng son mới. Trong cách nhìn của Plato về “luật suy tàn” này, thành bang lý tưởng suy đồi thành nhà nước quân sự, nhà nước quân sự thành chính thể đầu sỏ, chính thế đầu sỏ thành dân chủ và sau đó, cuối cùng dân chủ thành độc tài. Nhưng Plato không chỉ đơn thuần miêu tả sự suy đồi dần dần của thành bang; ông đề nghị một sự giải thích triết học cho nó, và điều này dựa vào lý thuyết về các Mô thức của ông, và do đó là thuyết bản chất. Đi xa hơn nữa, Plato tìm cách cung cấp một cách ngăn cản xu hướng suy tàn tự nhiên này. Popper cho rằng, đây là một mục tiêu sâu xa của xã hội không tưởng được phát triển trong tác phẩm Cộng hòa – một xã hội đóng hư cấu mới mẻ như là giải pháp cho xu hướng tự nhiên hướng đến sự suy tàn về chính trị và đạo đức này. Đó là một xã hội với hệ thống đẳng cấp và tôn ti trật tự do các triết gia cai trị, những người có tri thức về các mô thức, để ngăn chặn sự suy tàn cũng như đảm bảo cho người cai trị không bị hủ hóa. Nền dân chủ bừa bãi của Athen sẽ được thay thế bằng một xã hội ổn định và bất biến. Plato thấy điều này là công bằng, nhưng Popper cho rằng nó mang tất cả đặc điểm của chủ nghĩa toàn trị, bảo gồm hệ thống đẳng cấp khắt khe, sự kiểm duyệt, chủ nghĩa tập thể, kế hoạch hóa trung ương – tất cả những điều này sẽ được củng cố thông qua tuyên truyền và lừa dối, hoặc như Plato goi chúng, “lời nói dối cao quý”.

Sự nghi ngờ sâu sắc của Plato về dân chủ chắc chắn một phần bắt nguồn từ kinh nghiệm của ông. Khi còn là một chàng trai trẻ ông thấy các công dân của Athen, do ảnh hưởng của những kẻ mị dân, ủng họ cho những chiến dịch quân sự không khôn ngoan mà cuối cùng dẫn đến sự chiến thắng của Sparta vào năm 404 trước công nguyên. Khi dân chủ được tái lập theo sau sự rời đi của những những người Sparta năm 403 trước công nguyên, ông chứng kiến cuộc bỏ phiếu của người dân Athen để hành quyết người công dân khôn ngoan nhất của họ, Socrates. Popper khi còn là một thành niên cũng chứng kiến sự xụp đổ của nền dân chủ, ở nước Áo quê hương ông, cũng như trên toàn châu Âu. Nhưng ông rút ra những bài học rất khác từ kinh nghiệm đó. Đối với ông, dân chủ vẫn là một bức tường chống lại chuyên chế, chứ không phải là trợ giúp cho chuyên chế. Từ các lý do sẽ được giải thích trong phần kế tiếp, Popper cho rằng bằng cách bác bỏ nền dân chủ hệ thống của Plato đã phá hủy không chỉ sự tự do cá nhân mà còn là các điều kiện cho sự tiến bộ xã hội, chính trị, khoa học và đạo đức. Phê phán của Popper đối với Plato gây ra một cuộc tranh luộn sống động và dai dẳng. Trước khi xuất bản Xã hội mở, Plato được thừa nhận rộng rãi như là khởi nguồn của chủ nghĩa nhân văn khai sáng trong truyền thông Phương tây. Sự đánh giá lại của Popper coi Plato như là người ủng hộ phát xít gây nhiều tranh cãi. Các học giả kinh điển đứng lên bảo vệ Plato và buộc tội Popper đọc Plato một cách phi lịch sử, sử dụng những bản dịch mơ hồ về những lời nói của ông, và không đánh giá đúng những điều mỉa mai và ẩn dụ trong các đối thoại của Plato. Những phê phán này cho thấy nhiều sai lầm trong sự uyên bác của Popper. Nhưng Popper đã thành công khi lôi kéo họ chú ý tới những nguy cơ toàn trị tiềm tàng trong chủ nghĩa không tưởng của Plato. Các học giả sau đó không thể tránh bàn về luận điểm này của ông.

Dù Plato là mục tiêu chính của các phê phán của Popper trong Xã hội mở, ông cũng phát hiện những xu hướng nguy hiểm trong tư tưởng của các triết gia Hilap cổ đại khác, mà đáng chủ ý nhất là trong tư tưởng của Aristotle. Popper cho rằng, học trò vĩ đại nhất của Plato đã kế thừa thuyết bản chất của thầy mình nhưng đã mang đến cho nó một khuy hướng mục đích luận. Giống Plato, Aristotle tin rằng nhận thức về một đối tượng đòi hỏi phải hiểu bản chất của nó. Tuy nhiên, Plato và Aristotle khác nhau ở cách hiểu của họ đối với mối quan hệ giữa bản chất của thực thể và làm thế nào bản chất đó thể hiện ra trong thế giới khả giác. Plato cho rằng các thực thể tìm thấy trong thế giới khả giác là không hoàn hảo, là một hình ảnh đang suy tàn của các Mô thức. Popper cho rằng, cách hiểu này về lịch sử là hoàn toàn bi quan: thế giới suy tàn theo thời gian. Chính trị học của Plato là một nỗ lực để ngăn cản hay ít nhất là làm chậm sự suy tàn này. Trái lại, Aristotle hiểu về bản chất của thực thể như là một nhóm các tiềm năng sẽ biểu lộ khi thực thể phát triển theo thời gian. Bản chất của một thực thể vận động như một động cơ bên trong thúc đẩy thực thể hướng đến sự phát triển toàn diện nhất của nó, hay điều mà Aristotle gọi là mục đích cuối cùng. Ví dụ, cây sồi là mục đích cuối cùng của quả sồi, mục đích mà nó cố gắng hướng tới.

Từ đây Popper phát hiện ra một chủ nghĩa lịch sử ẩn tàng trong nhận thức luận của Aristotle. Dù chính Aristotle không tạo ra một lý thuyết về lịch sử, thuyết bản chất của ông kết hợp với thuyết mục đích luận của ông mang lại một ý niệm là bản chất thực sự của con người hay nhà nước chỉ có thể hiểu được khi nó để lộ ra theo thời gian. “Chỉ khi con người hoặc nhà nước phát triển, và chỉ thông qua lịch sử của nó, chúng ta mới có thể biết bất cứ thứ gì về “bản chất ẩn dấu chưa phát triển” của nó. Ngoài ra, Popper còn cho rằng thuyết bản chất của Aristotle đi cùng với ý niềm về một vận mệnh lịch sử: sự phát triển của nhà nước hay quốc gia được quyết định trước bởi “bản chất ẩn giấu chưa phát triển của nó”.

Popper tin rằng ông đã khám phá ra những mối liên kết sâu xa giữa triết học Hilap cổ đại và sự thù địch đối với xã hội mở. Trong thuyết bản chất, thuyết toàn bộ và chủ nghĩa lịch sử của Plato, Popper phát hiện ra cơ sở triết học cho dự án toàn trị cổ đại của ông. Như chúng ta sẽ thấy trong phấn tiếp theo, Popper cho rằng chính những ý tưởng này cũng nằm ở trong tâm của chủ nghĩa toàn trị hiện đại. Dù đối với Popper thì Plato là kẻ thù cổ xưa quan trọng nhất của xã hội mở, tuy nhiên trong thuyết bản chất mục đích luận của Aristotle Popper nhìn thấy một mối liên hệ quan trọng nối kết chủ nghĩa lịch sử cổ đại và hiện đại. Trong thực tế, ý tưởng về vận mệnh lịch sử mà tư tưởng Aristotle tạo ra nằm ở trung tâm trong tư tưởng của hai triết gia thể kỉ 19 là G.W.F. Hegel và Karl Marx, những người mà Popper buộc tội là đã thúc đẩy sự xuất hiện của các xã hội đóng hiện đại. “Hệ quả lịch sử xa hơn” của thuyết bản chất của Aristole là “sự ngủ quên trong hơn hai mươi thế kỉ, hay “sự ẩn dấu và chưa phát triển”, mãi cho đến khi ra đời hệ thống triết lý của Hegel.

 

4. Hegel, Marx và Chủ nghĩa lịch sử hiện đại

Lịch sử nằm ở trung tâm trong triết học của cả Hegel và Marx, và đối với Popper thì tư tưởng của họ là ví dụ điển hình về tư duy duy sử và từ đó là những sai lầm chính trị mà nó mang lại. Chủ nghĩa lịch sử của Hegel được phản ánh trong quan điểm của ông là sự tương tác biện chứng giữa các ý tưởng như là động cơ của lịch sử. Hegel cho rằng, sự ra đời và tiến bộ dần dần của các ý tưởng triết học, đạo đức, chính trị và tôn giáo quyết định tiến trình lịch sử. Lịch sử, mà đôi khi Hegel miêu tả như là sự mở ra dần dần của “Lý tính”, đi đến một kết thúc khi tất cả các mâu thuẫn nội tại trong tư tưởng con người cuối cùng được giải quyết.

Thuyết duy vật lịch sử của Marx là một sự đảo ngược nổi tiếng của triết học của Hegel. Đối với Marx, lịch sử là một sự kế tiếp của các hệ thống kinh tế và chính trị, hay “các phương thức sản xuất” theo như lời Marx. Khi sự đối mới kĩ thuật và những cách tổ chức sản xuất mới dẫn tới sự cải thiện khả năng của xã hội trong việc đáp ứng các nhu cầu vật chất của con người, một phương thức sản xuất mới ra đời. Trong mỗi phương thức sản xuất mới, hệ thống chính trị và pháp lý, cũng như các giá trị và thực tiễn đạo đức và tôn giáo chi phối sẽ phản ánh lợi ích của những người kiểm soát hệ thống sản xuất mới. Marx tin rằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là giai đoạn áp chót của lịch sử con người. Năng lực sản xuất được giải phóng nhờ công nghệ mới trong chủ nghĩa tư bản cuối cùng đi đến mâu thuẫn với chính chủ nghĩa tư bản như là một hệ thống kinh tế và chính trị, mà đặc điểm chính của nó là không hiệu quả, bất ổn, và bất công. Marx dự đoán rằng những thiếu sót này chắc chắn sẽ dẫn đến cách mạng, và sau đó là sự thiết lập xã hội cộng sản. Giai đoạn cuối cùng này của sự phát triển của con người sẽ là giai đoạn sung túc vật chất, và tự do và bình đẳng thực sự cho tất cả.

Theo Popper, dù họ bất đồng về cơ chế quyết định sự tiến hóa của xã hội con người, cả Marx và Hegel, giống như Plato, là các những người theo chủ nghĩa lịch sử bởi vì họ tin rằng các luật phi lịch sử chi phối lịch sử con người. Đối với Popper, đây là điểm mấu chốt, và cũng là sự sai lầm và mối nguy hiểm hàng đầu.

Theo Popper, khuyết điểm sâu xa về mặt phương pháp luận của chủ nghĩa lịch sử đó là những người theo chủ nghĩa lịch sử nhìn nhận một cách sai lầm rằng mục tiêu của các khoa học xã hội là dự báo lịch sử - dự báo tiến trình chung của lịch sử. Nhưng theo Popper, một sự dự báo như vậy là không thể. Ông đưa ra hai luận điểm mà ông nói sẽ giải thích cho tính không thể này. Thứ nhất là một luận điểm logic ngắn gọn: tri thức của con người tăng lên và thay đổi theo thời gian, và tri thức này một lần nữa ảnh hưởng đến các sự kiện xã hội. (Tri thức đó có thể là một lý thuyết khoa học, một lý thuyết xã hội, hay một ý tưởng đạo đức hoặc tôn giáo). Vì vậy, chúng ta không thể dự đoán những điều mà chúng ta sẽ biết trong tương lai, do đó chúng ta không thể dự đoán tương lai. Bao lâu chúng ta thừa nhận là tri thức ảnh hưởng đến các hành vi xã hội và tri thức thức thay đổi theo thời gian- hai giải thiết mà Poppes xem như là không thể chối cãi được – thì quan điểm cho rằng chúng ta có thể dự đoán được tương lai là không đúng và vì vậy chủ nghĩa lịch sử bị bác bỏ. Luận điểm này, cần lưu ý là, cũng phản ánh quan điểm của Popper cho rằng vũ trụ không phải một hệ thống tất định: nghĩa là, ông tin rằng các điều kiện và quy luật tự nhiên không hoàn toàn quyết định theo kiểu nhân quả đối với tương lai, trong đó bao gồm các tư tưởng và hành động của con người. Ông nói vũ trụ của chúng ta là một vũ trụ “mở”.

Luận điểm thứ hai của Popper chống lại khả năng dự đoán lịch sử tập trung vào vai trò của các quy luật trong sự giải thích xã hội. Theo Popper, những người theo chủ nghĩa lịch sử tin tưởng một cách sai lầm rằng khoa học xã hội đúng đắn phải là một dạng “lịch sử lý thuyết” trong đó mục đích là để khám phá ra các quy luật phát triển của lịch sử dùng để giải thích và dự đoán tiến trình lịch sử. Theo Popper điều này thể hiện một sự hiểu sai căn bản về các quy luật khoa học. Trong thực tế, Popper cho rằng, không có những thứ như quy luật về sự phát triển của lịch sử. Nghĩa là, không có các quy luật phi lịch sử quyết định sự chuyển dịch từ một giai đoạn lịch sử này sang một giai đoạn kế tiếp. Sự thất bại để hiểu tại sao lại như vậy thể hiện một lỗi triết học xâu xa. Popper cho rằng, có thể có các quy luật xã hội học chi phối hành vi của con người trong các hệ thống hay thiết chế xã hội cụ thể. Chẳng hạn, quy luật cung cầu là một dạng quy luật xã hội chi phối kinh tế thị trường. Nhưng tiến trình tương lai của lịch sử không thể dự đoán được và, cụ thể là, các quy luật chi phối đường đi chung của lịch sử là không tồn tại. Popper không phủ nhận rằng có thể có các xu hướng lịch sử - xu hướng hướng đến tự do và bình đẳng, giàu có hơn hay công nghệ tốt hơn, tuy nhiên không giống các quy luật thực sự, những xu hướng luôn luôn phụ thuộc vào các điều kiện nào đó.

Khi có sự thay đổi các điều kiện thì các xu hướng thay đổi hoặc biến mất. Một xu hướng hướng đến sự tự do hay tri thức lớn hơn có thể bị gián đoạn bởi sự bùng nổ của một bệnh dịch lớn hay sự xuất hiện một công nghệ mới mà khuyến khích các chế đội toàn trị. Popper thừa nhận là trong một số trường hợp nào đó các nhà khoa học tự nhiên có thể dự đoán tương lai – ngay cả tương lai xa – với một sự chắc chắn, như trong trường hợp của thiên văn học. Nhưng sự thành công này của việc dự đoán dài hạn chỉ có thể xảy ra trong các hệ thống vật lý mà “biệt lập, tĩnh và mang tính chu kì”, như hệ  thống mặt trời. Tuy nhiên, các hệ thống xã hội không bao giờ là biệt lập và tính tại.

 

5. Công nghệ xã hội không tưởng

Theo Popper, chủ nghĩa lịch sử với tư cách như là một khoa học xã hội chứa nhiều khuyết điểm to lớn. Và ông cũng lập luận rằng nó gây ra nguy hiểm cho chính trị và nguy hiểm này bắt nguồn từ sự liên minh tự nhiên và gần gũi của chủ nghĩa lịch sử với điều mà Popper gọi là “công nghệ xã hội không tưởng”. Một sự tổ chức về mặt xã hội “nhắm đến tái tạo lại “toàn bộ xã hội” theo các kế hoạch cụ thể”, trái với sự tổ chức xã hội nhắm đến những sự điều chỉnh dần dần và có giới hạn. Popper thừa nhận là sự liên minh giữa chủ nghĩa lịch sử và công nghệ không tưởng là “khá xa lạ”. Bởi vì những người theo chủ nghĩa lịch sử tin rằng các quy luật quyết định tiến trình của lịch sử, và từ điểm nhìn này của họ, thì rút cuộc sẽ là vô nghĩa khi cố gắng để thiết kế cho sự thay đổi xã hội. Cũng như một nhà khí tượng học có thể dự đoán thời tiết, nhưng không thể thay đổi nó, niềm tin tương tự được giữ bởi các nhà khoa học xã hội, và những người theo chủ nghĩa lịch sử. Họ có thể dự đoán sự phát triển của xã hội trong tương lai, như không tác động hay thay đổi chúng.

Khi có sự thay đổi các điều kiện thì các xu hướng thay đổi hoặc biến mất. Một xu hướng hướng đến sự tự do hay tri thức lớn hơn có thể bị gián đoạn bởi sự bùng nổ của một bệnh dịch lớn hay sự xuất hiện một công nghệ mới mà khuyến khích các chế đội toàn trị. Popper thừa nhận là trong một số trường hợp nào đó các nhà khoa học tự nhiên có thể dự đoán tương lai – ngay cả tương lai xa – với một sự chắc chắn, như trong trường hợp của thiên văn học. Nhưng sự thành công này của việc dự đoán dài hạn chỉ có thể xảy ra trong các hệ thống vật lý mà “biệt lập, tĩnh và mang tính chu kì”, như hệ  thống mặt trời. Tuy nhiên, các hệ thống xã hội không bao giờ là biệt lập và tính tại.