- 1. Phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ
- 2. Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan
- 3. Phân định thềm lục địa chồng lấn với Indonesia
- 4. Thiết lập vùng nước lịch sử chung với Campuchia
- 5. Hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn với Malaysia
- 6. Vận dụng pháp luật quốc tế trong phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia khác
Trả lời:
1. Phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ
Tại Vịnh Bắc Bộ, bờ biển của Việt Nam và Trung Quốc vừa đối diện lại vừa liền kề với nhau nhưng nơi rộng nhất không đến 200 hải lý. Chính vì vậy, khu vực này cần được phân định để xác định rõ ràng biển giới lãnh hải cũng như ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước.
Quá trình đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu được tiến hành từ năm 1974. Ngày 25 tháng 12 năm 2000, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ được ký và ngày 30 tháng 6 năm 2004, Hiệp định được phê chuẩn. Đây là Hiệp định phân định biển thứ hai mà Việt Nam ký với nước liên quan nhưng là một hiệp định có ý nghĩa hết sức quan trọng. Lần đầu tiên trong lịch sử, hai quốc gia đã vạch được đường biển giới chung trong một vịnh lớn, có tầm quan trọng đặc biệt về mọi mặt đối với cả hai quốc gia và bảo đảm cồng bang cho cả hai bên.
Theo Hĩệp định, hai bên thỏa thuận sử dụng phương pháp đường trung tuyến, có tính đến hiệu lực của các đảo để phân định lãnh hải, thềm lục địa và đặc quyền kinh tế giữa hai quốc gia. Đường trung tuyến được xác định bằng cách nối tuần tự 21 điểm trong vịnh bằng các đoạn thẳng dựa trên tọa độ địa lý của 21 điểm. Trong đó, đường phân định từ điểm nối số 1 đến điểm nối số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định là đường ranh giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ. Bãi Bạch Tô Nham (Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt Nam) có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải. Đảo Bạch Long Vĩ có hiệu lực 25%, Đảo Cồn Cỏ 50%... Hai bên cam kết tôn trọng chù quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ được xác định theo Hiệp định. Ranh giới phân định Vịnh Bắc Bộ Việt Nam - Trung Quốc theo Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ
2. Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan
Giữa Việt Nam và Thái Lan hình thành vùng chồng lấn rộng khoảng 6.000km2 (trong tổng số 320.000km2 diện tích Vịnh Thái Lan). Qua 6 năm thương lượng (1992 -1997) với 9 vòng đàm phán, ngày 09 tháng 8 năm 1997, hai bên đã ký Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. Hiệp định chính thức có hiệu lực ngày 27 tháng 02 năm 1998. Đây là hiệp định về phân định biển đầu tiên mà Việt Nam ký kết với quốc gia láng giềng.
Đường phân định được xác định là một đường thẳng kẻ từ điểm c tới điểm K. Điểm c chính là điểm nhô ra nhất về phía Bắc của khu vực phát triển chung Thái Lan - Malaysia được xác định rõ trong Bản ghi nhớ ngày 21 tháng 02 năm 1979 và trùng với điểm 43 của đường yêu sách thềm lục địa của Malaysia năm 1979. Điểm K nằm trên đường thẳng cách đều Thổ Chu và Poulo Wai, đây là đường “dàn xếp tạm thời” Việt Nam - Cambodia năm 1991. Đường CK tạo thành ranh giới phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Thái Lan, đồng thời cũng là đường phân định vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước. Mỗi bên ký kết đều thừa nhận các quyền chủ quyền và tài phán của bên kia trên vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế nằm trong phạm vi đường ranh giới biển được xác lập bởi Hiệp định. Ranh giới phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam - Thái Lan.
3. Phân định thềm lục địa chồng lấn với Indonesia
Giữa hai quốc gia có vấn đề xác định ranh giới chung của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. Sau 26 năm đàm phán (1978 - 2003), ngày 26 tháng 6 năm 2003, hai quốc gia đã ký kểt Hiệp định về phân định thềm lục địa. Đường phân định thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia dài khoảng 250 hải lý, được xác định bằng các đoạn thẳng nối tuần tự 6 điểm có tọa độ địa lý cụ thể. Các đoạn thẳng nối các điểm và tọa độ của các điểm là các đường trắc địa và tọa độ địa lý được tính toán trên Hệ tọa độ trắc địa thế giới năm 1984 (WGS-84) và được thể hiện trên hải đồ số 3482, tỉ lệ 1/1.500.000 do Hải quân Hoàng gia Anh xuất bản năm 1977. Vị trí thực trên biển của các điểm đường ranh giới phân định thềm lục địa và các đoạn thẳng sẽ được xác định bằng các phương pháp do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và Cục Thủy đạc và Hải dương thuộc Hải quân Indonesia thực hiện. Hiệp định này chỉ phân định ranh giới thềm lục địa, không ảnh hưởng tới bất kì hiệp định nào sẽ được ký trong tương lai về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa hai quốc gia
4. Thiết lập vùng nước lịch sử chung với Campuchia
Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia có bờ biển liền kề, cần phải phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn giữa hai bên trong Vịnh Thái Lan. Năm 1982, hai quốc gia đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử với các nội dung chính là: Thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý; hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán như cũ; việc khai thác tài nguyên thiên nhiên khác do hai bên cùng nhau thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận không bên nào được đơn phương tiến hành; vào thời gian thích họp hai bên sẽ thương lượng để phân định vùng biển chồng lấn trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
5. Hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn với Malaysia
Trong khu vực cửa Vịnh Thải Lan, Việt Nam và Malaysia có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn. Diện tích vùng chồng lấn không lớn (khoảng 2.800km2) nhưng có tiềm năng về dầu khí. Ngày 05 tháng 6 năm 1992, Chính phủ Việt Nam và Malaysia ký Bản ghi nhớ thoả thuận họp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn (MOU). Đây là thoả thuận về hợp tác khai thác dầu khí chung đầu tiên của Việt Nam với các quốc gia láng giềng.
Đầu tháng 5 năm 2009, Việt Nam phối họp với Malaysia nộp Bảo cáo chung về khu vực thềm lục địa mở rộng ở phía Nam Biển Đông và Báo cáo riêng của Việt Nam về khu vực thềm lục địa ở khu vực phía Bắc Biển Đông.
6. Vận dụng pháp luật quốc tế trong phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia khác
Trong thực tiễn phân định biển với các quốc gia có liên quan, lập trường nhất quán của Việt Nam là căn cứ luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước luật biển năm 1982, tính tới các hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên trong khu vực phân định để đạt được một giải pháp công bằng mà các bên đều chấp nhận được. Phân tích các thỏa thuận phân định biển mà Việt Nam đã đạt được, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Các thỏa thuận đều xác định rõ phạm vi vùng phân định hoặc vùng khai thác chung giữa hai bên; các vùng chồng lấn giữa một trong hai bên hoặc cả hai bên với các quốc gia thứ ba sẽ được giải quyết trên cơ sở thoả thuận riêng của từng quốc gia.
- Về nguyên tắc phân định: Trong quá trình đàm phán, Việt Nam và các quốc gia hữu quan đã căn cứ vào pháp luật quốc tế; nguyên tắc công bằng được áp dụng phù hợp với hoàn cảnh của vùng phân định.
- Về phương pháp phân định: Nhìn chung, cách tiếp cận của Việt Nam và các quốc gia hữu quan là “điều chỉnh - công bằng”, tức là sử dụng quy tắc “cách đều - các hoàn cảnh liên quan” để phân định vùng biển chồng lấn. Trừ trường hợp phân định với Indonesia, Việt Nam đã sử dụng một đường duy nhất để phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn với các quốc gia hữu quan như Thái Lan, Trung Quốc. Thực tiễn này phù họp với xu hướng chung trên thế giới hiện nay.
- Các yếu tố địa lý luôn được Việt Nam và quốc gia hữu quan cân nhắc khi đàm phán phân định, đặc biệt là sự hiện diện của đảo trong khu vực phân định. Ví dụ, đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai có hiệu lực đầy đủ trong phân định; Đảo Bạch Long Vĩ được hưởng 25% hiệu lực trong phân định do nằm gần giữa vịnh, cách đường ranh giới phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khoảng 15 hải lý. Đảo cồn cỏ được hưởng 50% hiệu lực trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại đường đóng cửa vịnh do nằm gần bờ của Việt Nam hom (cách bờ khoảng 13 hải lý). Các Bãi Bạch Tô Nham (Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt Nam) cũng có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải.
Sự hiện diện của quốc gia thứ ba cũng được các bên tính đến khi phân định biển. Ví dụ, Điều 2 Hiệp định phân định biển Việt Nam - Thái Lan đã dự liệu rằng, thoả thuận đã có giữa Thái Lan và Malaysia (1979) là hoàn cảnh có liên quan khi Việt Nam và Thái Lan tiến hành các thoả thuận với chính phủ Malaysia nhằm phân định vùng thềm lục địa chồng lấn giữa ba nước ở trong Vịnh Thái Lan.
Nhìn chung, các yếụ tố phi địa lý ít có ảnh hưởng đến phân định giữa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Ví dụ, ở Vịnh Bắc Bộ, vấn đề nghề cá truyền thống được các bên xử lý bằng cách tách riêng với vấn đề phân định; trong trường hợp có cấu tạo mỏ dầu, khí vắt ngang hai bên sẽ hiệp thưomg hữu nghị thỏa thuận khai thác và phân chia công bằng nguồn lợi thu được (Điều 7 Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ; Điều 4 Hiệp định phân định biển Việt Nam - Thái Lan...).
- Trong khi chờ đợi sự phân định cuối cùng, Việt Nam và các quốc gia hữu quan đã vận dụng quy định của Luật quốc tế liên quan để có giải pháp tạm thời phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của vùng cần phân định. Ví dụ, Bản ghi nhớ thoả thuận giữa Việt Nam và Malaysia 1992, Hiệp định về họp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ 2000... Giải pháp này giúp các bên có thể sớm khai thác các tài nguyên, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Bên cạnh các thỏa thuận đã ký kết, Việt Nam vẫn còn các vùng biển chồng lấn với quốc gia láng giềng cần phải tiếp tục phân định. Đó là:
- Phâri định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn với Malaysia, bao gồm vùng chồng lấn ba bên: Việt Nam, Thái Lan và Malaysia ở Vịnh Thái Lan.
- Phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia: Tính đến tháng 3 năm 2016, Việt Nam và Indonesia đã tổ chức vòng đàm phán thứ 8 cấp chuyên viên về phân định vùng đặc quyền kinh te (EEZ) giữa hai nước. Trong các buổi làm việc, hai bên tiếp tục thảo luận các phương pháp phân định frên cơ sở các quy định của Công ước luật biển năm 1982 và trao đổi quan điểm về nguyên tắc còn tồn tại của dự thảo Các nguyên tắc và hướng dẫn đàm phán.
- Phân định biển giới trên biển trong vùng nước lịch sử và phân định ranh giới trên biển ngoài vùng nước lịch sử chung với Campuchia. Hiện nay, quan điểm của cả hai bên còn khác xa nhau do có nhiều cách vẽ cũng như cách hiểu về đường Brévié. Trên thực tế, Việt Nam đề nghị căn cứ vào luật pháp và thực tiễn quốc tế cũng như hoàn cảnh cụ thể của vùng biển, áp dụng đường cách đều để phân định công bằng. Tuy nhiên, phía Campuchia vẫn kiên trì đề nghị lấy đường Brévié năm 1939 làm đường biển giới trên biển giữa hai nước. Vì vậy, trong thời gian tới, hai bên cần tiếp tục giải quyết các vấn đề pháp lý đang tồn tại, ví dụ như vấn đề quy chế pháp lý của đường Brévié và vận dụng nguyên tắc Utis Possidentis đối với vùng phân định.
- Phân định với Trung Quốc khu vực chồng lấn ở phía ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Sự hiện diện của một số hoàn cảnh đặc biệt trong khu vực này cũng sẽ là một trong những trở ngại cho quá trình đàm phán phân định giữa hai bên. Ví dụ, sự hiện diện của quần đảo Hoàng Sa và các đảo ven bờ của Việt Nam như đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn và Cù Lao Chàm... Để giải quyết dứt điểm việc phân định ở khu vực này đòi hỏi các bên phải hết sức thiện chí, đàm phán trên cơ sở luật quốc tế.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)