1. Tài sản trí tuệ được hiểu là gì?

Trí tuệ tồn tại trong bản chất con người và nó gần như vô tận, không có giới hạn. Đó là tổng hợp của khả năng suy nghĩ, hành động và cách sử dụng kiến thức, kinh nghiệm và hiểu biết trong ý thức, cái nhìn sâu sắc về thế giới. Sự sáng tạo và tư duy mới trong trí tuệ, cũng như cách thể hiện chúng, không phải ai cũng có. Điều này tạo nên sự riêng biệt của mỗi người khi họ thể hiện trí tuệ của mình. Để đảm bảo rằng sự độc quyền này không bị vi phạm thông qua việc sao chép trái phép, cả pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng đã đưa ra các quy định về việc bảo vệ các sản phẩm sáng tạo từ trí tuệ của con người và coi chúng như tài sản có giá trị về mặt thực tế và pháp lý.

Theo một số từ điển tiếng Việt, trí tuệ được giải thích là khả năng suy nghĩ, tư duy của con người, bao gồm sức tưởng tượng, khả năng ghi nhớ, phê phán, luận lý và sự thu nhận tri thức, có thể dẫn đến việc phát minh khoa học và sáng tạo nghệ thuật.

Từ góc độ tài sản, tài sản trí tuệ là một loại tài sản liên quan đến trí tuệ, hình thành từ các hoạt động trí tuệ của con người. Đó là một dạng tài sản phát triển trong quá trình tư duy của con người về hiện thực, hiện tượng, vấn đề khoa học hoặc nghiên cứu cụ thể nào đó. Nói cách khác, đó là quá trình tư duy của con người về thế giới khách quan, được nhận biết như là các kết quả cụ thể của hoạt động sáng tạo và được đánh giá cao vì những lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà nó mang lại cho người sở hữu.

Tính từ pháp lý, dù các luật về sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật liên quan chưa cung cấp một định nghĩa chính xác về tài sản trí tuệ, tuy nhiên, theo Điều 1 Khoản 2 của Luật số 36/2009/QH12 được Quốc hội ban hành, quyền sở hữu trí tuệ được xác định như sau: Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức hoặc cá nhân đối với các loại tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, cũng như quyền đối với giống cây trồng.

Dựa trên đó, tài sản trí tuệ có thể được hiểu là bao gồm các loại quyền sau:

- Quyền tác giả: Là quyền mà tổ chức hoặc cá nhân sở hữu đối với các tác phẩm họ sáng tạo hoặc sở hữu.

- Quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi tắt là quyền liên quan): Là quyền mà tổ chức hoặc cá nhân sở hữu đối với việc biểu diễn, ghi âm, ghi hình, phát sóng, hoặc truyền tín hiệu vệ tinh chứa nội dung được mã hóa.

- Quyền sở hữu công nghiệp: Là quyền mà tổ chức hoặc cá nhân sở hữu đối với các sáng chế, thiết kế công nghiệp, cấu trúc bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do họ sáng tạo hoặc sở hữu, cũng như quyền chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

- Quyền đối với giống cây trồng: Là quyền mà tổ chức hoặc cá nhân sở hữu đối với giống cây trồng mới do họ tạo ra hoặc phát hiện và phát triển, hoặc được quyền sở hữu.

 

2. Tính độc quyền của tài sản trí tuệ là gì?

Việc thiết lập độc quyền trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là một biện pháp nhằm bảo vệ sự sáng tạo của tác giả đối với các sản phẩm trí tuệ của họ, từ đó tạo ra sự cạnh tranh về quyền sở hữu và quyền thương mại đối với sản phẩm hoặc ý tưởng mà họ sở hữu. Ví dụ như độc quyền thương hiệu, độc quyền đối với kiểu dáng công nghiệp, và những ví dụ tương tự.

Trái ngược với các lĩnh vực khác, yếu tố độc quyền trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có tính đặc biệt và cần được khuyến khích, trừ một số trường hợp mà việc chuyển giao quyền là bắt buộc.

Về nguyên tắc

- Tính độc quyền của tài sản trí tuệ chỉ được phép sử dụng bởi chủ sở hữu, và nếu các bên khác muốn sử dụng thì cần có sự cho phép từ chủ sở hữu. Điều này được thể hiện thông qua việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản trí tuệ của họ.

- Độc quyền về tài sản trí tuệ hoặc việc bảo vệ tài sản trí tuệ thông qua việc bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ sẽ cho phép chủ sở hữu khai thác tài sản trí tuệ của mình, ngăn cản các hành vi sử dụng, sao chép, hoặc mô phỏng mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu và không có sự bồi hoàn xứng đáng cho họ. Tuy nhiên, các tài sản trí tuệ luôn bị hạn chế về phạm vi, thời hạn, và trong một số trường hợp đặc biệt, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ sở hữu thực hiện quyền của mình hoặc buộc họ phải cho phép tổ chức hoặc cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền đó để bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng.

Cần nhớ rằng, nguyên tắc tính độc quyền trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ không áp dụng đồng nhất trong mọi trường hợp. Trong một số tình huống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể cho phép một bên không phải là chủ sở hữu sử dụng quyền sở hữu trí tuệ mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu. Điều này nhằm mục đích cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của cộng đồng, thông qua việc quy định về việc sử dụng tác phẩm mà không yêu cầu sự xin phép hay trả tiền bản quyền.

Ví dụ, theo Công ước Berne, quốc gia thành viên có quyền quy định việc sao chép, trích dẫn, in lại, phát sóng lại... các tác phẩm một cách hợp pháp, miễn là việc sử dụng không dùng mục đích kinh doanh và không làm tổn thương quyền lợi hợp pháp của tác giả. Trong những trường hợp như vậy, việc sử dụng không yêu cầu xin phép hay trả tiền bản quyền. Tuy nhiên, các tổ chức hoặc cá nhân sử dụng tác phẩm trong các tình huống này vẫn phải cung cấp thông tin về tên tác giả và nguồn gốc của tác phẩm.

 

3. Căn cứ phát sinh và căn cứ xác lập tài sản hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của các tổ chức và cá nhân đối với các tài sản trí tuệ. Theo quy định tại Điều 6 của Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005, được sửa đổi và bổ sung vào năm 2019, các căn cứ phát sinh và xác lập quyền sở hữu trí tuệ như sau:

- Quyền tác giả phát sinh từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và được biểu hiện dưới một hình thức vật chất cụ thể, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, và có hoặc chưa công bố, đã hoặc chưa đăng ký.

- Quyền liên quan phát sinh từ thời điểm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, hoặc tín hiệu vệ tinh chứa chương trình được mã hoá, được hình thành hoặc thực hiện mà không gây thiệt hại đến quyền tác giả.

- Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm các quyền sau:

  + Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, và nhãn hiệu được xác lập dựa trên quyết định cấp văn bằng bảo hộ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy trình đăng ký được quy định trong Luật này hoặc qua việc công nhận đăng ký quốc tế theo các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

  + Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập dựa trên việc sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.

  + Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập dựa trên quyết định cấp văn bằng bảo hộ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy trình đăng ký được quy định trong Luật này hoặc theo các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

  + Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập dựa trên việc sử dụng hợp pháp của tên thương mại đó.

  + Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập dựa trên việc bí mật kinh doanh được thu thập một cách hợp pháp và bảo vệ.

  + Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập dựa trên các hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.

- Quyền đối với giống cây trồng được xác lập dựa trên quyết định cấp bằng bảo hộ giống cây trồng từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy trình đăng ký quy định trong Luật này.

Bài viết liên quan: Tài sản trí tuệ là gì? Ví dụ và đặc điểm của tài sản trí tuệ? 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về: Tính độc quyền của tài sản trí tuệ được hiểu như thế nào? Xin cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung bài viết!