1. Tội chống phá cơ sở giam giữ

Tội chống phá trại giam được quy định tại điều 119 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Theo quy định Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

"Điều 119. Tội chống phá cơ sở giam giữ

1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá cơ sở giam giữ, tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ, đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải hoặc trốn khỏi cơ sở giam giữ, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."

Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Bộ luật hình sự này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta, cũng như những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong nhiều thập kỷ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bộ luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm.

Thi hành nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự là nhiệm vụ chung của tất cả các cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự;

2. Thoát án tử hình nhờ có bầu trong trại giam

Một bị cáo người Anh phạm tội vận chuyển chất ma túy đã thoát khỏi án tử hình nhờ đã tìm cách có bầu (mang thai) trong thời gian đang bị tạm giam. Bản án sơ thẩm vừa mới được tuyên bởi một tòa án của Lào.

Thoát án tử hình nhờ có bầu trong trại giam

Tù nhân người Anh có bầu trong nhà tù Lào

Bị cáo tên là Samantha Orobator, 20 tuổi, người vùng Nam Luân Đôn, bị bắt với 680g ma túy mang theo người tại sân bay Wattay của thủ đô Vientiane.

Theo BBC, lẽ ra cô đã phải nhận án tử hình. Tuy nhiên, vì luật hình sự Lào qui định không áp dụng hình phạt tử hình đối với đang có thai, nên bị cáo đã thoát chết.

Được biết phiên xét xử bị cáo đã bị đình hoãn một thời gian, để phía các cơ quan tố tụng của Lào điều tra về nguyên nhân tại sao cô đã dính bầu khi ở trong tù. Về nguyên tắc, điều này hầu như không thể xảy ra vì người bị giam hoàn toàn cách ly với thế giới bên ngoài và không bị giam chung với người khác giới. Chưa kể tại Lào, cô là người ngoại quốc – việc tiếp xúc sẽ càng khó khăn hơn.

Dù vậy, trên thực tế những tình huống như vậy không phải là hiếm. Ngay tại Việt Nam cũng đã có ít nhất một trường hợp bị can nữ đã tìm cách “dính bầu” trong thời gian đang bị tạm giam trong tù (cũng về tội phạm ma túy) và nhờ đó đã … thoát án tử hình.

Tại phiên tòa, Orobator thừa nhận mình đã mang theo hơn một nửa ký lô ma túy, với mục đích đưa đến Úc.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Có thể thụ hình tại nước mình (Anh)
Hiện nay, nhiều khả năng Orobator sẽ kháng cáo để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về việc thụ hình sau này, một người bạn của Orobator tên là Ronke Oseni, nói "Có khả năng cô ta sẽ chịu án tù tại Anh. Nếu chuyện này không xảy ra cô ấy buộc phải sống trong nhà tù Lào, chấp nhận các điều kiện khắc khổ cho đến cuối đời”.

Được biết Anh đã ký hiệp định về trao đổi tù nhân với Lào. Điều này có nghĩa là Orobator rất có thể sẽ được ngồi tù tại Anh. Quan chức Anh nói họ đang xin tiếp xúc với nữ tù nhân để xem ý muốn sắp tới của cô ra sao.

Dư luận đánh giá nếu cô chịu ngồi tù tại Anh, án tù của cô nhiều khả năng sẽ giảm đi rất nhiều.

Theo BBC, Bộ Ngoại giao Anh nói nước Anh sẽ tiếp tục thi hành án tù từ một tòa án ở ngoại quốc. Tuy nhiên các điều khoản tha bổng tù nhân vẫn có thể được áp dụng. Một khi tù nhân được chuyển về Anh, Tòa tối cao Anh sẽ xem xét thời gian tối thiểu tù nhân này phải ngồi tù trước khi nghĩ đến khả năng trả tự do có điều kiện.

--------------------------------------------------------------
Qui định của pháp luật Việt Nam

Tử hình

- Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

- Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

- Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

+ Người đủ 75 tuổi trở lên;

+ Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

- Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

( Theo Điều 40 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

3. Luật sư mệt mỏi khi xin gặp thân chủ trong trại giam

Ngoài chuyện bị làm khó khi xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa, các luật sư còn mệt mỏi trước việc cứ mỗi giai đoạn tố tụng lại phải làm thủ tục cấp giấy mới.

Luật sư mệt mỏi khi xin gặp thân chủ trong trại giam

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư Lê Quang Y (Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai) kể ông nhận bào chữa cho một bị can bị tạm giam song nhiều lần gặp khó khi đề nghị cơ quan điều tra làm thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của luật sư kèm theo giấy tờ liên quan, cơ quan tố tụng phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa, nếu từ chối thì phải nêu rõ lý do. Nhìn qua quy định, tưởng chừng việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa rất đơn giản. Thế nhưng suốt nửa năm sau đó, luật sư Y đã phải “trầy vi tróc vảy” vì chuyện này.

Đầu tiên, cơ quan điều tra liên tục trì hoãn việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho ông với nhiều lý do. Chỉ khi ông gửi đơn qua đường bưu điện thì mới nhận được văn bản trả lời là bị can “từ chối yêu cầu luật sư”. Không đồng ý, ông trực tiếp đến cơ quan điều tra làm việc thì nơi này cho biết đã kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ cho VKS, “luật sư qua đó mà làm việc”.

Qua VKS, luật sư Y mới được biết thì ra bị can không hề từ chối yêu cầu luật sư như cơ quan điều tra viện dẫn. Sau đó, ông đã được VKS cấp giấy chứng nhận người bào chữa.

Vụ án bị VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Luật sư Y cầm giấy chứng nhận người bào chữa do VKS cấp đến cơ quan điều tra làm việc. Lúc này cơ quan điều tra bảo giấy chứng nhận người bào chữa của ông không còn giá trị, ông cần phải làm thủ tục xin cơ quan điều tra cấp lại giấy mới.

Mỗi giai đoạn một giấy chứng nhận

Câu chuyện của luật sư Y là một thực tế phổ biến hiện nay đối với giới luật sư khi tham gia tố tụng hình sự (trừ trường hợp bào chữa theo chỉ định). Ngoài chuyện bị làm khó khi xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa, các luật sư còn mệt mỏi trước việc cứ mỗi giai đoạn tố tụng lại phải làm thủ tục xin cấp giấy mới.

“Rất mệt mỏi và phiền hà”, luật sư Lê Dũng (Đoàn Luật sư TP HCM) nói. Ông kể mình nhận bào chữa cho một bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích ở huyện Đăk R’lấp (Đắk Nông). Ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa để tham gia phiên tòa sơ thẩm. Sau đó, vụ án được chuyển lên TAND tỉnh để xét xử phúc thẩm. Một lần nữa, ông lại phải làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận mới.

Tương tự, luật sư Phan Trung Hoài (Ủy viên Ban Thường vụ - Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ quyền lợi luật sư thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam) kể: Vừa qua, ông tham gia bảo vệ quyền lợi cho một bị cáo từ giai đoạn điều tra cho đến giai đoạn xét xử phúc thẩm. Cứ mỗi giai đoạn tố tụng, ông đều phải làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Sau đó, bản án sơ thẩm bị Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP HCM hủy để điều tra lại. Để tiếp tục tham gia tố tụng, ông phải tiếp tục làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bào chữa.

Nghị định cao hơn luật?

Theo luật sư Nguyễn Hồng Hà (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa), Điều 27 Luật Luật sư 2006 quy định: “Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật”. Tiếp đó, Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung 2012 cũng giữ nguyên quy định trên.

Như vậy, nếu thực hiện đúng Luật Luật sư 2006 thì giấy chứng nhận người bào chữa có giá trị xuyên suốt các giai đoạn tố tụng nếu luật sư không bị thay đổi, không thuộc các trường hợp không được tham gia tố tụng. Tức là nếu luật sư đã được cơ quan điều tra cấp giấy chứng nhận người bào chữa thì VKS, TAND sau đó không cần phải cấp lại giấy chứng nhận nữa.

Thế nhưng cho đến nay, các cơ quan tố tụng các cấp vẫn yêu cầu luật sư làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho từng giai đoạn tố tụng. Sở dĩ có tình trạng này là do các cơ quan tố tụng không tuân thủ Luật Luật sư mà vận dụng hướng dẫn trong Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 2/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng hình sự 2003). (Hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự 2003 được thay thế bằng Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nên theo nguyên tắc, nghị quyết số 03/2004/HNQ-HĐTP cũng hết hiệu lực)

Theo nhiều luật sư, hướng dẫn trong Nghị quyết 03 chỉ nói tòa thay đổi người tiến hành tố tụng (thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án), cấp lại cấp giấy chứng nhận người bào chữa nếu có căn cứ cho thấy người bào chữa có quan hệ thân thích với người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, không hiểu sao nó lại trở thành “thông lệ” để các cơ quan tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa “ngắt khúc” cho từng giai đoạn tố tụng.

“Chuyện mỗi giai đoạn tố tụng một giấy này là máy móc, không cần thiết, làm lãng phí thời gian, gây tốn kém cho luật sư, là rào cản cho quyền bào chữa của bị can, bị cáo, không phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp”, luật sư Nguyễn Thanh Lương (Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre) khẳng định.

Theo luật sư Lương và luật sư Nguyễn Quang Mai (Đoàn Luật sư TP HCM), tới đây khi sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự, cần phải bổ sung quy định như Luật Luật sư là giấy chứng nhận người bào chữa có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Đồng tình, luật sư Nguyễn Hồng Hà đề xuất thêm: Chính phủ, TAND Tối cao cần sớm ban hành nghị định, nghị quyết hướng dẫn Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung năm 2012, trong đó hướng dẫn cụ thể về việc cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư. “Nếu các luật và các văn bản hướng dẫn đều quy định thống nhất thì cơ quan tố tụng sẽ bắt buộc phải tuân thủ”, luật sư Hà nói.

Bỏ luôn giấy chứng nhận?

Thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa đang trở thành điểm nóng trong vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của luật sư. Có lẽ chỉ ở nước ta mới còn tồn tại thủ tục này. Ngay cả ở Trung Quốc, vốn có mô hình tố tụng tương tự như Việt Nam cũng đã bãi bỏ việc này.

Quyền bào chữa và quyền nhờ người bào chữa là quyền hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp. Luật sư là chủ thể để thực hiện chức năng tố tụng cơ bản, đó là chức năng bào chữa, có vị thế phản biện, đối trọng với chức năng buộc tội và xét xử. Do vậy, thủ tục quy định giấy chứng nhận bào chữa là rào cản, không phản ảnh vị thế bình đẳng.

Mặt khác, mỗi giai đoạn tố tụng lại bắt làm thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa không những kéo dài thời gian giải quyết vụ án, hạn chế quyền tiếp cận vụ việc của luật sư mà còn thể hiện sự hành chính hóa thủ tục giấy tờ của cơ quan chức năng.

Theo tôi, đã đến lúc cần thiết phải bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa. Theo đó, người bào chữa chỉ cần trình thẻ luật sư và giấy yêu cầu của khách hàng thì được tạo điều kiện ngay để thực hiện chức năng tố tụng và được hành nghề theo đúng quy định của pháp luật.

Luật sư Phan Trung Hoài

(MKLAW FIRM: sưu tầm và biên tập)

Nếu cần giải đáp, tư vấn, hãy liên hệ với bộ phận luật sư/ chuyên viên tư vấn trực tiếp qua tổng đài 24/7: 1900.6162 hoặc đến trụ sở văn phòng để nhận được sự hỗ trợ, tư vấn của Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.