- 1. Khái quát chung:
- 1.1. Nguyên nhân thắng lợi ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên
- 1.2. Ý nghĩa lịch sử ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên
- 1.3. Yếu tố quyết định thắng lợi trong ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên
- 2. Tóm tắt các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên
- 2.1. Bản tóm tắt 1
- Cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258:
- Cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285:
- Cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288:
- 2.2. Bản tóm tắt 2:
- Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông cổ (1258):
- Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên (1285):
- Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống xâm lược Nguyên (1287 - 1288):
1. Khái quát chung:
Âm mưu xâm lược Đại Việt của Mông Cổ: Đầu thế kỷ XVII, đế quốc Mông Cổ từ Thái Bình Dương đến Bắc Hải, đội quân hiếu chiến, rất giỏi cưỡi ngựa bắn cung. Quân Mông Cổ xâm lược Đại Việt ta để làm bàn đạp chiếm Nam Tống và xâm lược các nước Đông Nam Á. Công cuộc chuẩn bị và tiến hành kháng chiến chống quân Mông Cổ: Sự chuẩn bị của nhà Trần Bắt giam sứ giả Mông Cổ, kiên quyết chống giặc ngoại xâm. Cả nước sắm sửa vũ khí. Các đội dân binh được thành lập, tập luyện võ nghệ ngày đêm.
1.1. Nguyên nhân thắng lợi ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên
Công cuộc ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên đã khẳng định sự tài tình trong lãnh đạo của vua tôi nhà Trần và sự đoàn kết của dân tộc ta. Nguyên nhân thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên:
- Nguyên nhân thắng lợi không chỉ ở lãnh đạo mà tạo nên bởi một tập thể đoàn kết.
- Sự đồng lòng của vua tôi nhà Trần, được tất cả các tầng lớp nhân dân ủng hộ và tham gia kháng chiến.
- Sự chuẩn bị chu đáo của nhà Trần, tinh thần quyết chí hy sinh của toàn dân, toàn quân ta.
- Đường lối chiến lược đúng đắn, sáng tạo.
- Sự lãnh đạo tài tài của các vị tướng nhà Trần, đặc biệt là Trần Quốc Tuấn.
>> Xem chi tiết: Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên
1.2. Ý nghĩa lịch sử ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên
Trải qua ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên của nhà Trần, đã đem lại ý nghĩa lịch sử rất to lớn như:
- Đập tan tham vọng xâm lược Đại Việt của quân Nguyên, bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.
- Ngăn chặn âm mưu xâm lược của quân Nguyên Mông đối với những nước khác.
- Xây đắp truyền thống quân sự, viết nên một trang sử hào hùng cho quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
- Là bài học kinh nghiệm quý giá cho quá trình bảo vệ đất nước sau này của dân tộc ta.
1.3. Yếu tố quyết định thắng lợi trong ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên
Sau khi chinh phục được nhiều quốc gia và xây dựng nên một đế chế hùng mạnh từ bờ Đông biển Hắc Hải đến bờ Tây Thái Bình Dương, quân Mông Cổ tiếp tục tấn công hòng chinh phục Nam Tống và đánh chiếm các nước ở khu vực Đông Á, Đông Nam Á. Để thực hiện mưu đồ này, Đại hãn Mông Cổ cho quân đánh chiếm Đại Việt làm bàn đạp tiến công Nam Tống và tiến hành “kế ở lâu dài” phát triển xuống khu vực Đông Nam châu Á. Tháng 01 năm 1258, khoảng bốn vạn quân Mông Cổ do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy tiến hành xâm lược Đại Việt, tuy nhiên đội quân này đã bị quân và dân nhà Trần đánh bại. Sau cuộc tiến công lần đầu không thành, năm 1285, quân Mông - Nguyên tiến hành đánh chiếm nước ta lần thứ hai với quy mô lớn nhất (khoảng 60 vạn quân), mức độ ác liệt hơn, song vẫn không giành được thắng lợi. Không chấp nhận thất bại, năm 1288, quân Mông - Nguyên tiếp tục tiến công xâm lược lần thứ ba với mục đích rửa “nỗi nhục” tại đất nước nhỏ bé này và một lần nữa chúng lại phải cúi đầu khuất phục trước quân, dân Đại Việt. Về phía Đại Việt, sau khi nắm quyền từ tay nhà Lý, nhà Trần tiếp tục đưa đất nước phát triển mạnh mẽ, làm nên hào khí Đông A với những chính sách ưu việt, nổi bật là việc chăm lo củng cố triều chính, binh bị, bố phòng đất nước, khoan thư sức dân, v.v. Khi biết tin quân Mông - Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta, vua tôi nhà Trần đã đoàn kết một lòng cùng với nhân dân cả nước khẩn trương làm công tác chuẩn bị để đánh giặc giữ nước. Trong vòng 30 năm (1258 - 1288), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của vương triều Trần, quân và dân Đại Việt đã ba lần đánh bại quân Mông - Nguyên xâm lược, bảo vệ vững chắc giang sơn, bờ cõi. Có được chiến thắng trước đội quân xâm lược hùng mạnh là do nhiều yếu tố hợp thành; trong đó, yếu tố cơ bản, quan trọng là “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức” và sự chỉ đạo chiến lược sáng suốt, tài tình của Bộ Thống soái Đại Việt, đứng đầu là các vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.
Thứ nhất, tránh đối đầu trực diện quy mô lớn với địch, chủ động rút lui, bảo toàn lực lượng, từng bước đưa chúng vào thế trận chuẩn bị trước, đánh trận quyết định:
Với quyết tâm bảo vệ vững chắc non sông, bờ cõi, nên khi được tin quân Mông - Nguyên chuẩn bị xâm lược Đại Việt, vua Trần đã xuống chiếu cho cả nước khẩn trương sắm sửa vũ khí, làm công tác chuẩn bị chống giặc; cử Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn thống lĩnh đại quân cùng nhân dân cả nước đánh giặc, giữ nước. Năm 1258, khi quân giặc tiến quân xâm lược nước ta, nhận thấy không thể đối đầu trực diện với đội quân Mông Cổ thiện chiến, quen đánh trận ngay từ đầu, Bộ Thống soái nhà Trần chỉ đạo quân và dân các lộ từng bước chặn giặc, làm giảm nhịp độ tiến công của chúng, đồng thời tổ chức cho quân chủ lực triều đình rút lui, bảo toàn lực lượng và có thời gian bàn phương lược phản công. Cùng với đó, chia quân ra trấn giữ những nơi hiểm yếu, thực hiện các cuộc tấn công nhỏ, lẻ, làm suy yếu quân giặc, khi thời cơ đến tổ chức các cuộc phản công quy mô lớn đánh đuổi quân giặc ra khỏi bờ cõi. Thực hiện kế sách đó, quân và dân Đại Việt đã kiên cường, dũng cảm chiến đấu, đích thân vua Trần Thái Tông đi tiên phong, tự mình đốc thúc quân sĩ đánh giặc. Thấy rõ sức mạnh của địch, tướng Lê Phụ Trần đề nghị với nhà vua hãy tạm rút lui để bảo toàn lực lượng, không nên “dốc túi đánh nước cuối cùng”. Được sự tham mưu của tướng sĩ, nhận thấy chưa thể đánh bại ngay được quân giặc, vua Trần cùng Bộ Thống soái đã tổ chức lui quân từ Bình Lệ Nguyên về Phù Lỗ rồi về Thăng Long. Trước thế tiến công mạnh mẽ của giặc, nhằm bảo toàn lực lượng và có thời gian chuẩn bị phản công, triều đình nhà Trần đã quyết định rút lui khỏi kinh thành. Việc lui quân khỏi Thăng Long đã giúp nhà Trần bảo toàn gần như nguyên vẹn quân triều đình và giành thắng lợi quyết định trong cuộc phản công tại Đông Bộ Đầu (Hà Nội ngày nay) vào ngày 20/01/1258.
Cũng như cuộc kháng chiến lần thứ nhất, năm 1285, khi 60 vạn quân Mông - Nguyên xâm lược nước ta, nhờ chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến chu đáo, động viên tinh thần tướng sĩ kịp thời, cùng với đánh giá chính xác tình hình quân giặc, Bộ Thống soái nhà Trần, đặc biệt là Trần Quốc Tuấn đã thay đổi ý định tác chiến, tránh quyết chiến chiến lược trong điều kiện bất lợi, từng bước ngăn chặn giặc, chủ động rút lui khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng. Quá trình lui quân ra Quảng Yên, rồi vào Thanh Hóa, nhà Trần từng bước củng cố, bổ sung lực lượng, nên thế và lực quân ta lại mạnh thêm. Cùng với đó, chỉ đạo quân các lộ, quân vương hầu từng bước nhử giặc vào thế trận đã chuẩn bị sẵn, làm cho quân giặc muốn đánh nhanh, giao chiến với quân triều đình cũng không được. Trong khi quân chủ lực nhà Trần vẫn chưa phải giao chiến lớn, sức mạnh vẫn bảo toàn thì quân giặc ngày càng mệt mỏi, hoang mang do phải dàn mỏng lực lượng từ Lạng Sơn đến Thăng Long để đối phó với các cuộc tiến công nhỏ, lẻ của ta. Khi thời cơ chín muồi, Bộ Thống soái nhà Trần chỉ đạo quân và dân ta thực hiện những trận phản công chiến lược tại Tây Kết, Hàm Tử Quan, Chương Dương Độ, Thăng Long, Vạn Kiếp tiêu diệt lớn quân giặc, đánh bại cuộc tiến công xâm lược quy mô lớn nhất của địch, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai.
Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ ba (năm 1288), cũng như hai lần trước, mặc dù quân giặc thay đổi thủ đoạn xâm lược, nhưng nhờ nắm chắc mưu đồ của chúng, Bộ Thống soái nhà Trần đã không bố trí quân triều đình tại khu vực biên giới, mà tập trung tại những nơi dự kiến sẽ diễn ra trận quyết chiến chiến lược. Ở những khu vực hiểm yếu mà quân giặc sẽ đi qua, vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng bố trí lực lượng vừa phải chặn đánh, làm giảm tốc độ tiến công của chúng và có thể rút lui an toàn. Theo đó, dưới sự chỉ đạo của Bộ Thống soái nhà Trần, quân và dân ta đã tập trung xây dựng thế trận bí mật, hiểm hóc, có thế đánh, thế lui tại Bạch Đằng Giang và từng bước lừa dụ quân giặc vào để đánh trận quyết định, qua đó kết thúc vang dội cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ ba. Có thể thấy, việc quân và dân nhà Trần tránh đối đầu trực tiếp quy mô lớn với quân Mông - Nguyên khi chúng đang mạnh, thực hiện việc lui quân chiến lược để bảo toàn lực lượng, chờ quân giặc mệt mỏi, suy yếu rồi mới phản công là để “tránh cái thế hăng hái ban mai của giặc” và “sức dùng một nửa, công được gấp đôi”.
Thứ hai, triệt để tiến hành kế “thanh dã”, cắt đứt đường tiếp tế lương thảo của giặc:
Đi đôi việc thực hiện các cuộc rút lui chiến lược, tránh đối đầu quy mô lớn nhằm bảo toàn quân chủ lực, Bộ Thống soái nhà Trần còn thực hiện có hiệu quả kế “thanh dã” và chặn đánh đoàn thuyền tải lương, cắt nguồn tiếp tế, cung cấp lương thảo khiến chúng rơi vào cảnh thiếu thốn, đói khát; quân tướng hoang mang, lo sợ, giảm sút ý chí chiến đấu. Trước nguy cơ đói khát, dịch bệnh hoành hành, quân giặc đã chia quân thành tốp nhỏ, đánh ra các hương, ấp xung quanh kinh thành để cướp lương thảo. Dưới sự chỉ đạo của vương triều nhà Trần, nhân dân các hương, ấp đã cất giấu lương thực, vũ khí, tiến hành những trận phục kích, tập kích nhỏ vào đội hình quân giặc. Liên tục bị quân và dân nhà Trần tiến công, cộng thêm khó khăn về lương thảo, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, tướng sĩ Mông Cổ hoang mang, lo sợ, giảm sút nhuệ khí chiến đấu, đó chính là cơ hội để quân và dân nhà Trần thực hiện trận phản công chiến lược tại Đông Bộ Đầu giành thắng lợi. Năm 1285, mặc dù đã có sự chuẩn bị chu đáo về lương thảo, nhưng khi chiếm được Thăng Long và các khu vực lân cận, chúng vẫn gặp không ít khó khăn về hậu cần và cũng không thể kiểm soát được nơi đã chiếm. Bởi, các đội quân của triều đình có nhiệm vụ ở lại đã cùng với quân các lộ, dân binh các hương, ấp thực hiện có hiệu quả kế “thanh dã” - “vườn không, nhà trống” và tiến hành kháng chiến lâu dài theo kế hoạch của triều đình. Ngoài ra còn thường xuyên tổ chức các đợt tấn công vào đội hình quân giặc nhất là đội quân đi cướp lương thảo trong dân. Những hoạt động đó của quân và dân ta đã khiến việc bảo đảm lương thảo của giặc gặp rất nhiều khó khăn, đường vận chuyển, tiếp tế bị cắt đứt, đẩy chúng rơi vào cảnh thiếu lương thực, thực phẩm; khu vực đóng quân bị quấy rối, đe dọa, lực lượng tiêu hao, tinh thần hoảng loạn. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ ba, chỉ bằng một trận đánh tại Vân Đồn - Cửa Lục, quân và dân ta đã tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền tải lương của giặc, làm cho kế hoạch xâm lược của chúng gặp muôn vàn khó khăn, lương thảo không đủ để cung cấp, sức chiến đấu bị giảm sút. Việc chỉ đạo thực hiện có hiệu quả kế “thanh dã” - cắt đứt nguồn lương thảo tại chỗ, đánh phá, chặn cắt nguồn tiếp tế, cung cấp lương thảo giữa tuyến trước và tuyến sau của giặc khẳng định sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt, độc đáo của Bộ Thống soái nhà Trần.
Như vậy, trong cả ba cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên, nhờ nắm chắc tình hình, đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu, sở trường, sở đoản của giặc, Bộ Thống soái nhà Trần đã có những chỉ đạo chiến lược: thực hiện các cuộc rút lui nhằm bảo toàn lực lượng; kéo dài thời gian kháng chiến để chuẩn bị phản công; tiến hành triệt để kế “thanh dã”, cắt đứt nguồn cung cấp, tiếp tế lương thảo của giặc, qua đó, làm cho chúng rơi vào tình cảnh khốn đốn, tinh thần hoang mang, ý chí chiến đấu giảm sút và không thực hiện được ý định đánh nhanh, thắng nhanh. Sự chỉ đạo chiến lược của triều đình nhà Trần là nhất quán, xuyên suốt trong ba cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên và là sách lược duy nhất đúng trong cuộc đối đầu với đội quân hùng mạnh, thiện chiến, quen trận mạc. Sự chỉ đạo chiến lược đó khẳng định tầm nhìn, tư duy sáng tạo, khả năng tổ chức của Bộ Thống soái Đại Việt, đứng đầu là các vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, đồng thời là bài học quý cần vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
2. Tóm tắt các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên
2.1. Bản tóm tắt 1
Cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258:
Thế kỉ XIII, các bộ lạc du mục (Thát Đát, Tác Ta) bước vào giai đoạn thống nhất, dần hình thành đế quốc Mông Cổ. Ngay trong quá trình thống nhất, Mông Cổ đã tổ chức các đạo quân xâm lược, không ngừng bành trướng lãnh thổ. Sau khi đánh chiếm Đại Lí (Vân Nam, Trung Quốc), Mông Cổ ráo riết sửa soạn xâm lược Đại Việt nhằm chiếm đất đai, tạo bàn đạp và thế gọng kìm đánh lên Nam Tống. Trước âm mưu xâm lược của Mông Cổ, quân dân nhà Trần đã tích cực chuẩn bị kháng chiến. Vùng đất Vĩnh Phúc - với địa hình trải theo các triền sông lớn (sông Lô, sông Hồng) - trở thành vị trí hết sức xung yếu, từ Vân Nam (Trung Quốc) có thể theo ngả sông Hồng, qua vùng đất này trước khi vào kinh đô Thăng Long cũng như tiến sâu vào lãnh thổ Đại Việt. Vì thế, nhà Trần từ sớm đã chú ý phòng ngự, lệnh cho cả nước khẩn trương chuẩn bị đánh giặc. Tháng 10 năm 1257, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho các tướng điều quân thuỷ bộ lên miền biên giới tây bắc. Ngã ba Bạch Hạc nhiều lần được Trần Quốc Tuấn chọn là nơi luyện tập thủy quân. Trần Nhật Duật cũng cho đóng đại bản doanh tại Bạch Hạc, chỉ huy lực lượng quân đội, án ngữ vùng Việt Trì. Đầu năm 1258, khoảng 3 vạn quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, theo lưu vực sông Hồng phía tả ngạn và hữu ngạn sông Thao tiến vào Đại Việt. Đường tả ngạn qua vùng đất Hà Tuyên xuống Bạch Hạc (Việt Trì). Đường hữu ngạn qua vùng đất Quy Hoá (Yên Bái, Vĩnh Phúc) cùng xuống Bạch Hạc. Hai đạo quân nhỏ này có nhiệm vụ đi trước thăm dò, dẫn đường. Theo sau là đạo quân khác do con trai của Ngột Lương Hợp Thai là Aju (A Thuật) chỉ huy. Cuối cùng là đạo quân do chính Ngột Lương Hợp Thai trực tiếp cầm đầu. Tháng 1 năm 1258, hai đạo quân Mông Cổ đi trước cùng đến hội quân ở Bạch Hạc. Sau đó chúng theo đường bộ, định tiến về Thăng Long qua ngả Bình Lệ Nguyên. Tại Bình Lệ Nguyên (huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc), trên sông Cà Lồ, vua Trần Thái Tông đã lập phòng tuyến chặn giặc. Bình Lệ Nguyên chính là trận đầu tiên quân dân Đại Việt đối đầu trực diện với quân Mông Cổ. Tuy nhiên, địa hình Bình Lệ Nguyên lại khá thuận lợi cho kị binh Mông Cổ phát huy sở trường. Vì thế, trận địa của quân dân nhà Trần bị lấn dần. Đạo quân của tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần) được lệnh vừa đánh vừa rút. Trong các trận đánh quân Mông Cổ trên vùng đất Vĩnh Phúc, bên cạnh các đội quân chính quy của triều đình, lực lượng dân binh của các thổ tù, chủ trại địa phương đã góp phần không nhỏ trong việc cản bước quân giặc. Tiêu biểu là các đội quân của Hà Bổng, Hà Đặc. Tuy nhiên, trước sức mạnh của địch, nhận thấy khó giữ được Thăng Long, để bảo toàn lực lượng, vua tôi nhà Trần quyết định rút lui khỏi kinh thành. Sau khi củng cố lực lượng, ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân Đại Việt từ sông Thiên Mạc mở đợt phản công đánh địch tại bến Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng cạnh kinh thành Thăng Long). Quân Mông Cổ bị đánh bật khỏi kinh thành Thăng Long, rút chạy theo ngả sông Hồng về Vân Nam. Khi tàn quân Mông Cổ chạy qua đất Quy Hóa (miền tây Vĩnh Phúc, giáp với Yên Bái), Hà Bổng đã tập hợp dân binh các làng tổ chức mai phục. Chiến thắng của các trận phục kích ở Quy Hóa có ý nghĩa to lớn, góp phần khích lệ, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân Đại Việt. Ngày nay, vùng đất Bình Xuyên vẫn còn lưu lại những tên gọi địa danh ghi dấu trận chiến năm 1258. Tại đền thờ một bộ tướng của Hai Bà Trưng ở xã Sơn Lôi (huyện Bình Xuyên) còn đôi câu đối, trong đó có một vế nhắc lại chiến công trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất này: "Trần phá Nguyên binh vạn cổ anh linh lưu bất tử" (Nhà Trần đánh quân Nguyên, anh linh ngàn năm bất diệt).
Cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285:
Sau thất bại năm 1258, quân Mông Cổ vẫn nuôi dã tâm xâm lược Đại Việt. Năm 1279, Mông Cổ tiêu diệt nhà Tống, Hốt Tất Liệt lên ngôi, thiết lập triều Nguyên. Triều Nguyên nhiều lần cho sứ giả sang dụ dỗ, đe dọa vua tôi triều đình Đại Việt. Nhà Trần đã khôn khéo đấu tranh, kéo dài thời gian hòa hoãn để chuẩn bị về mọi mặt. Năm 1279, mượn cớ đánh Chiêm Thành, nhà Nguyên âm mưu đưa quân vào Đại Việt. Năm 1282, quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy vượt biển đánh Chămpa, để từ đó đánh lên Đại Việt từ phía nam. Cuối tháng 1 năm 1285, 50 vạn quân Nguyên (gồm cả cánh quân đánh Chămpa năm 1282) từ hai hướng Vân Nam và Lạng Sơn vượt biên giới tấn công Đại Việt. Trong thời gian này, nhà Trần đã mở hội nghi Bình Than (1282) và Diên Hồng (1285), phát động và cổ vũ tinh thần toàn quân, toàn dân tham gia đánh giặc. Đạo quân Nguyên từ Vân Nam do Nạp Tốc Đạt Đinh thống lĩnh theo lưu vực sông Chảy tiến xuống, bị quân ta do tướng Trần Nhật Duật chỉ huy chặn đánh ở Thu Vật (Yên Bình). Song, do thế giặc mạnh và với phương châm chỉ đánh tiêu hao nhằm cản bước tiến của địch để bảo toàn lực lượng, Trần Nhật Duật rút quân về Bạch Hạc. Tại đây, ông tiếp tục thực hiện chiến thuật trên. Chiếm được Thăng Long, nhưng quân Nguyên không tiêu diệt được bộ chỉ huy cuộc kháng chiến, lại gặp nhiều khó khăn về lương thực, khí hậu. Ngược lại, quân đội Đại Việt vẫn bảo toàn được lực lượng, tạo thời cơ để tổ chức cuộc phản công chiến lược. Chiến thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương đã buộc Thoát Hoan phải rút quân khỏi kinh thành Thăng Long, theo hướng Lạng Sơn rút quân về nước. Trên đường rút chạy, quân Nguyên tiếp tục bị quân ta chặn đánh, đến mức Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát chết. Đạo quân do Nạt Tốc Lạt Đinh chỉ huy rút chạy về Vân Nam theo hướng sông Lô, khi qua địa phận Phù Ninh, bị quân Hà Đặc đuổi đánh đến vùng Quảng Nạp (A Lạp). Hà Đặc hi sinh, em Hà Đặc là Hà Chương nhân đêm tối, tiếp tục tập kích vào trại giặc.
Cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288:
Mặc dù đã hai lần thất bại song quân Nguyên vẫn chưa từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta. Để chuẩn bị cho lần viễn chinh thứ ba này, Hốt Tất Liệt đã huy động hàng chục vạn quân, chia làm 3 mũi tiến vào từ 3 phía: Vân Nam, Lạng Sơn, đạo quân thủy do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp vượt biển, qua Quảng Ninh ngược sông Bạch Đằng để vào nội địa. Ngả sông Hồng, đạo quân Mông Nguyên do Ái Lỗ (A Rục), A Tri và Mông Khu Đai chỉ huy nhiều lần bị quân của Trần Nhật Duật chặn đánh. Trước thế mạnh ban đầu của giặc, Trần Nhật Duật đã chủ động rút quân từ Tuyên Quang về lập phòng tuyến chống địch tại Bạch Hạc. Ngày 11 tháng 12 năm 1287, sau những trận chiến đấu quyết liệt tại Bạch Hạc, Trần Nhật Duật tiếp tục rút lui. Cũng như hai lần trước, quân Nguyên tràn vào Thăng Long, song không tiêu diệt được bộ chỉ huy cuộc kháng chiến, quân Nguyên hung hãn tấn công xuống Thiên Trường. Do mất toàn bộ đoàn thuyền lương ở Vân Đồn, Thoát Hoan lo thiếu lương thực, sợ bị tiêu diệt, vội vã tính chuyên tháo chạy. Theo đúng dự tính của Trần Hưng Đạo, quân dân Đại Việt đã tổ chức phục kích, đánh tan cánh quân thủy trên sông Bạch Đằng. Hàng vạn quân Mông Nguyên bị tiêu diệt, bị bắt sống, (trong đó có các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ) thu về hơn 400 chiến thuyền. Chiến thắng Bạch Đằng đã đập tan mưu đồ xâm lược Đại Việt của quân Mông Nguyên, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Trong ba lần kháng chiến chống Mông Nguyên, trên vùng đất Vĩnh Phúc, hưởng ứng lời kêu gọi của triều đình, đã có nhiều dân người đứng lên, tập hợp và tổ chức dân binh phục kích, tiêu hao nhiều sinh lực địch. Ngày nay, trên địa bàn Vĩnh Phúc còn truyền tụng những câu chuyện về bảy anh em họ Lỗ, ba ông quận tham gia đánh giặc Nguyên. Thần tích ghi 7 anh em họ Lỗ quê ở xã Bồ Lí, tổng Yên Dương, huyện Tam Dương, gia cảnh nghèo khổ, phải kiếm củi nuôi nhau. Khi nghe tin quân Nguyên xâm lược, liền bỏ nghề kiếm củi, tập hợp dân làng đi đánh giặc, địa bàn hoạt động của họ suốt từ tả ngạn sông Lô đến tả ngạn sông Hồng, từ Bạch Hạc đến Chèm (Hà Nội ngày nay). Sau khi đánh giặc xong, lại trở về quê cũ kiếm củi. Sau bảy anh em được lập đền thờ ở các xã: Đình Thúy, Gẩu, Tích Sơn (thành phố Vĩnh Yên), đình Hướng Đạo, Lai Sơn, Nhân Mĩ, Long Đậu, Láng (huyện Tam Dương). Sau kháng chiến chống xâm lược Mông Nguyên, trên vùng đất Vĩnh Phúc, dọc các triền sông Lô, sông Hồng - con đường giặc ngoại xâm đã tràn qua, làng xóm bị tàn phá khá nặng nề. Nhân dân Vĩnh Phúc cùng với quân dân cả nước lại bắt tay vào công cuộc khôi phục đất nước, quê hương.
2.2. Bản tóm tắt 2:
Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông cổ (1258):
Tháng 1/1258, ba vạn quân Mông cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, tiến vào xâm lược Đại Việt. Quản giặc theo đường sông Thao, tiến xuống Bạch Hạc (Phú Thọ), rồi tiến đến vùng Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc) thì bị chặn lại ở phòng tuyến do vua Trần Thái Tông chỉ huy. Để bảo toàn lực lượng, nhà Trần chủ trương cho quân rút khỏi kinh thành Thăng Long, thực hiện "vườn không nhà trống". Giặc vào kinh thành vắng lặng không một bóng người và không một chút lương thực. Chúng đã điên cuồng tàn phá kinh thành. Thiếu lương thực, lại bị quân dân ta chống trả, chưa đầy một tháng, lực lượng chúng bị tiêu hao dần. Nhà Trần mở cuộc phản công lớn ở Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng, ở phố Hàng Than, Hà Nội ngày nay). Ngày 29 - 1 - 1258, quân Mông cổ thua trận phải rút chạy về nước. Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông cổ kết thúc thắng lợi.
Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên (1285):
Sau khi biết tin quản Nguyên đánh Cham-pa, vua Trần triệu tập các vương hầu, quan lại họp ở Bình Than (Chí Linh, Hải Dương) để bàn kế đánh giặc. Trần Quốc Tuấn được vua giao cho chỉ huy cuộc kháng chiến. Ông soạn Hịch tướng sĩ để động viên tinh thần chiến đấu của quân, dân. Đầu năm 1285, vua Trần mời các vị bô lão họp hội nghị Diên Hồng ở Thăng Long để bàn kế đánh giặc. Cả nước được lệnh chuẩn bị sẵn sàng, quân đội tập trận lớn ở Đông Bộ Đầu. Cuối tháng 1/1285, Thoát Hoan chỉ huy 50 vạn quân tiến công Đại Việt. Quân ta do Trần Hưng Đạo chỉ huy, sau một số trận chiến ở biên giới đã chủ động rút về Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương). Giặc tấn công Vạn Kiếp, quân đội nhà Trần rút về Thăng Long, thực hiện "vườn không nhà trống", rồi rút về Thiên Trường (Nam Định). Quân Nguyên chiếm được Thăng Long, nhưng chỉ dám đóng quân ở phía bắc sông Nhị (sông Hồng). Toa Đô từ Cham-pa đánh ra Nghệ An, Thanh Hoá. Thoát Hoan mở cuộc tấn công xuống phía nam, tạo thế "gọng kìm" với hi vọng tiêu diệt chủ lực quân Trần và bắt sống vua Trần. Quân ta chiến đấu dũng cảm, Thoát Hoan phải lui quân về Thăng Long. Quân Nguyên lâm vào tình thế bị động, thiếu lương thực trầm trọng. Từ tháng 5 - 1285, quân đội nhà Trần bắt đầu phản công, nhiều trận đánh lớn đã diễn ra ở Tây Kết, Hàm Tử (Khoái Châu, Hưng Yên), Chương Dương (Thường Tín, Hà Nội), quân giặc thất bại, quân ta tiến vào Thăng Long. Quân Nguyên tháo chạy. Sau hơn hai tháng phản công, quân dân nhà Trần đã đánh tan hơn 50 vạn quân xâm lược Nguyên, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ hai.
Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống xâm lược Nguyên (1287 - 1288):
Đứng trước nguy cơ bị xâm lược, nhà Trần khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, tăng cường quân số ở những nơi hiểm yếu, nhất là vùng biên giới và vùng biển. Cuối tháng 12/1287, khoảng 30 vạn quân Nguyên tiến vào nước ta. Cánh quân bộ do Thoát Hoan chỉ huy, vượt biên giới đánh vào Lạng Sơn, Bắc Giang rồi kéo về Vạn Kiếp. Cánh quân thuỷ do Ô Mã Nhi chỉ huy theo đường biển tiến vào sông Bạch Đằng, rồi tiến về Vạn Kiếp. Tại Vân Đồn. Trần Khánh Dư chỉ huy quân mai phục, khi đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đến, quân Trần đánh dữ dội. Phần lớn thuyền lương của giặc bị đánh đắm, số còn lại bị quân ta chiếm. Cuối tháng 1/1288, Thoát Hoan kéo quản vào kinh thành Thăng Long trống vắng. Sau trận Vàn Đồn, tình thế quân Nguyên ngày càng khó khăn, nhiều nơi xung yếu bị quân Trần tấn công chiếm lại, lương thực ngày càng cạn kiệt, quân giặc ở Thăng Long đứng trước tình thế bị cô lập. Thoát Hoan quyết định rút quân về Vạn Kiếp và từ đây rút quân về nước theo hai đường thuỷ, bộ. Nhà Trần mở cuộc phản công ở cả hai mặt trận thuỷ, bộ: Chiến thắng Bạch Đằng tháng 4 - 1288, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi lọt vào trận địa bãi cọc trên sông Bạch Đằng do quần Trần bố trí từ trước, cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Trên bộ, Thoát Hoan dẫn quân từ Vạn Kiếp theo hướng Lạng Sơn rút về Trung Quốc, bị quân dân ta liên tục chặn đánh. Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược kết thúc thắng lợi.
Hy vọng bài viết đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích. Trân trọng cảm ơn.