1. Tóm tắt bài Tuyên ngôn độc lập
Tuyên ngôn độc lập- Tài liệu lịch sử quan trọng với tầm quan trọng vĩnh cửu đối với số phận của một dân tộc. Trong khi Hoa Kỳ có Tuyên ngôn độc lập năm 1776 và Pháp có bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791, thì Việt Nam cũng có bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được trình bày vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên Quảng trường Ba Đình lịch sử. Tuyên ngôn độc lập đã được xác định như một biểu tượng sáng sủa đánh dấu của sự bắt đầu của một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam.
Trong bản tuyên ngôn độc lập thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày ba phần chính. Phần đầu tiên là sự tham khảo đến Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và Bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, hai cường quốc lớn nhất trên thế giới thời bấy giờ và cũng là hai quốc gia đã xâm lược Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí MInh sử dụng các tài liệu này để bày tỏ sự đòi hỏi về quyền bình đẳng quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và đề làm nền tảng cho việc chỉ ra các hành vi trái với tuyên ngôn độc lập của họ.
Phần nội dung của Tuyên ngôn độc lập nêu rõ là những sự kiện thực tế nhấn mạnh vào tội ác của Pháp trong hơn 80 năm chiếm đóng nước Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - giáo dục. Những sự kiện này tiêu diệt hoàn toàn vào các lời quảng cáo và tuyên ngôn của đối thủ đã và đang hoặc sẽ chiếm đóng đất nước ta.
Cuối cùng, phần kết luận của Tuyên ngôn độc lập đã đánh bại sắt đá và thể hiện sự quyết tâm kiên cường của dân tộc Việt Nam trong việc duy trì độc lập của họ. Tuyên ngôn này thể hiện tinh thần và tình yêu quê hương của Chủ tịch Hò Chí Minh đồng thời thể hiện sự khao khát mãnh liệt về độc lập tự do của nhân dân Việt Nam.
2. Tóm tắt bài Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu dưới ánh sáng đặc biệt của tài năng toả sáng như một ngôi sao sáng độc đáo. Tuy nhiên, để thấu hiểu hơn về ông thì chúng ta cần giành thời gian và tâm huyết để khi đối diện với một ngôi sao sáng rực trên bầu trời đêm. Không phải ai cũng nhận ra tầm quan trọng của Nguyễn Đình CHiểu trong lĩnh vực văn nghệ dân tộc vì nhiều người chỉ biết đến ông qua tác phẩm nổi tiếng Lục Vân Tiên và thậm chí còn hiểu sai về nội dung.
Thực tế, Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước, cuộc đời và sự sáng tạo của ông là biểu tượng của tinh thần anh dũng và tư tưởng nhân nghĩa. Những tác phẩm của ông không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật mà còn là những tấm gương tuyệt vời phản ánh chân thực những biến cố lịch sử và những cuộc đấu tranh kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong đó, truyện thơ Lục Vân Tiên nổi bật như một tượng đài của văn học dân gian đặc biệt là tại miền nam Việt Nam.
Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà thơ và một người làm nghệ thuật mà còn là một nhà nho và một nhà chí sĩ đích thực trái tim ông đập theo nhịp của những người yêu nước. Những tác phẩm của ông là một phần quan trọng của hành trình bền bỉ, quyết liệt của nhân dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chúng đọng mãi trong tâm hồn của mọi người. Nhắc nhở chúng ta về những giá trị vĩ đại của quê hương.
3. Tóm tắt bài Mấy ý nghĩ về thơ
Bài tiểu luận về một số ý nghĩ về thơ của tác giả Nguyễn Đình Thi đã tôn vinh những suy nghĩ và quan điểm độc đáo, đồng thời trình bày các đề xuất của ông về nghệ thuật thơ. Ông nhà văn đã khẳng định rằng thơ là bản hoà nhạc của tâm hồn và tâm tình con người tuy nhiên, điều quan trọng của tâm hồn là chứa đựng những sự sâu sắc của tư duy và phải được diễn đạt thông qua hình ảnh, âm nhạc nhịp điệu và ngôn ngữ. Từ tình cảm đến trái tim của nhà thơ, nghệ thuật chẳng hạn như thơ, đến với độc giả và thơ chính là sự kết tinh là tổng hợp của tất cả những yếu tố tinh tuý trong ngôn ngữ.
Nguyễn Đình Thi đã thể hiện sự phá cách và tư duy đột phá với thơ truyền thống. Ông đã nêu ra rằng không quan trọng thơ có vần hay không. Thơ tự do hay không hay quan trọng nhất là thơ có chất lượng và thể hiện sự thật. Ông đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong suy nghĩ và tiếp cận thơ đồng thời thể hiện sự quan tâm đáng kể vào việc xác định chất lượng của thơ.
4. Tóm tắt người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Câu chuyện về việc vượt qua sông Đà được tường thuật bởi một nhà văn đầy sự phấn khích về sức mạnh của con người trong việc chiến thắng thiên nhiên. Bằng cách sử dụng một ngôn ngữ đa dạng và phong phú giống như việc một chương trong tiểu thuyết. Nhà văn đã tạo ra một bức tranh đầy kịch tính và cao trào để tôn vinh nghệ thuật chinh phục thác sông Đà. Sông Đà với thần sông với tướng đá đầy mạnh mẽ trở thành một trận chiến khốc liệt với chiếc thuyền đơn độc như một anh hùng đang đối đầu với địch. Nhà văn đã miêu tả sự kì diệu của thế trận này bằng cách sử dụng ngôn ngữ tương tự như lúc mãnh tướng Triệu Tử LOng xâm nhập vào trận quân Tào Tháo. Bên cạnh đấy nhà văn cung tạo nên hình ảnh hóm hỉnh và độc đáo khi mô tả các chi tiết về hòn đá sông Đà: " Mặt hòn đá nào cũng trông như được tạo nên bởi sự ngỗ ngược và hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước ở đó,... Cuộc đối dầu giữa con người trên chiếc thuyền đơn độc và boong ke chìm và pháo đài nổi. Trong cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn đã tạo nên một sức hấp dẫn đặc biệt. Có lẽ nhà văn đã tái hiện không khí của những cuộc đấu sức truyền thống khi miêu tả cuộc đấu tranh đấu trí và đấu nhanh nhẹn giữa con người và đá nước. Cuộc đấu tranh này có tất cả các yếu tố về miếng, mưu, những cuối cùng thì chiến thắng vẫn thuộc về con người bởi vì: Ông đã nắm vững quy luật phục kích của lũ đá tại ải nước đầy hiểm trở này.
5. Tóm tắt Vợ chồng A Phủ
Ngày xưa. cha mẹ của Mị lấy nhau nhưng không có tiền để tổ chức lễ cưới đàng hoàng. Họ đã phải vay tiền từ nhà thống lí Pá Tra, người đứng đầu làng ngày nay. Khi mẹ của Mị qua đời và cha MỊ đã già nên khoản nợ hàng năm vẫn còn tồn tại và ngày càng cao hơn.
Một năm nọ, vào dịp Tết Hồng Ngài thì con trai thống lí Pá Tra có tên là A Sử đã bắt cóc Mị và đưa về làm vợ trong một nghi lễ cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gánh nợ. Cuộc sống của Mị còn khốn khổ hơn cả trăm con trâu và con ngựa thậm chí cô như con rùa trong xó nhà. Mỗi lần như vậy, cô chỉ nghĩ đến cách tự tử nhưng vì thương cha già nên cô đã không tự vẫn.
Một ngày nọ, sau nhiều năm đau khổ thì Mị đã bắt đầu thấy lại sự phơi phới của mình. Cô uống rượu còn chuẩn bị đồ đi chơi Tết, nhưng A Sử lại trói cô lại bằng một thúng sợi đay ngăn cản không cho cô đi chơi.
Trong khi đó, A Phủ người vì tội đánh một quan chức đã bị toàn bộ làng phạt trừ một khoản tiền lớn. A Phủ bị buộc phải làm nô lệ cho nhà Thống lí để trả nợ. Trong một năm nào đó, A Phủ làm mất một con bò trong rừng và bị Pá Tra trói lại anh ta vào cọc bằng cuộn mây và đẩy anh ta vào việc đau đớn và sự chết đói. May mắn thay anh được Mị cắt dây và giải thoát sau mấy đêm đau khổ. Hai người bỏ trốn đến Phiềng Sa và kết thành vợ chồng.
A Phủ sai đó gặp cán bộ A Châu và họ kết nghĩa, trở thành anh em và cùng tham gia vào chiến đấu chống thực dân Pháp như các chiến sĩ du kích khác.
Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết sau: Mở bài chung cho các tác phẩm nghị luận văn học lớp 12
Bài viết trên Luật Minh Khuê đã gửi tới bạn đọc chi tiết về vấn đề tóm tắt các tác phẩm văn học lớp 12. Trong bài viết Luật Minh Khuê đã gửi tới bạn đọc chi tiết về vấn đề.