1. Tổng cầu hoặc tổng chi tiêu là gì?
Là tổng số chi tiêu về hàng hóa và các dịch vụ nội địa. Tổng cầu gổm chi cho tiêu dùng, chi cho đầu tư, chi mua hàng hóa ... chi tiêu của chính phủ và xuất khẩu. Một số yếu tố của tổng cầu tương đối ổn định và chỉ thay đổi chậm theo thời gian (Ví dụ, chi cho tiêu dùng); các yếu tố khác thưởng thay đổi và thay đổi nhanh, tạo ra những biến động trong hoạt động kinh tế (ví dụ, chi cho đầu tư). Tổng cầu tác động tương hỗ với tổng cung để xác định mức cân bằng của thu nhập quốc dân. Chính phủ luôn điều tiết tổng cầu để sử dụng nhãn lực, tránh lạm phát, thúc đẩy tàng trưởng kinh tế và bảo đảm cân bằng về cán cân thanh toán, qua việc sử dụng chính sách tài chính và chính sách tiền tệ.
2. Tổng cầu là gì?
Tổng cầu (aggregate demand - AD) là khái niệm trong kinh tế vĩ mô dùng để chỉ tổng số nhu cầu trong nền kinh tế về hàng hóa và dịch vụ cuối cùng sản xuất trong nước.
Nếu AD là tổng cầu thì công thức tính AD được xác định như sau:
AD=C+I+G+X-M
Hoặc
AD= C+I+G+NX
Trong đó, C là tổng nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình, I là tổng nhu cầu về nhà ở và hàng đầu tư của các doanh nghiệp, G là tổng nhu cầu mua hàng của chính phủ, X là tổng nhu cầu của người nước ngoài về hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước và M là tổng nhu cầu của cá nhân, tổ chức trong nước về hàng nhập khẩu.Trong công thức trên, C, I, G, NX được coi là 4 thành tố của tổng cầu. Vì thành tố xuất khẩu ròng (NX) bằng xuất khẩu trừ nhập khẩu (X-M), nên AD tăng khi nhu cầu về hàng xuất khẩu tăng và nhu cầu về hàng nhập khẩu giảm.
trong mô hình kinh tế, người ta thường phân biệt giữa tổng cầu danh nghĩa và thực tế. Tổng cầu danh nghĩa là tổng nhu cầu tính bằng giá hiện hành, còn tổng cầu thực tế là tổng cầu tính bằng giá không đổi (cố định). Trong mô hình xác định sản lượng cân bằng và mô hình tổng cung - tổng cầu (AS-AD), tổng cầu và các thành tố của nó được tính bằng giá cố định.Một số thành tố của tổng cầu tương đối ổn định, nghĩa là chỉ thay đổi sau một thời gian dài, ví dụ tiêu dùng (C), trong khi một số thành tố khác có thể biến động rất mạnh, gây ra sự biến động thường xuyên trong quy mô hoạt động kinh tế, ví dụ đầu tư (I).
Tổng cầu tác động qua lại với tổng cung để xác định mức sản lượng và thu nhập quốc dân cân bằng. Chính phủ có thể ổn định quy mô hoạt động kinh tế bằng cách sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô.
3. Tổng chi tiêu là gì?
Tổng chi tiêu là tổng các khoản chi tiêu để mua hàng hóa và dịch vụ cuối cùng trong nền kinh tế. Tổng chi tiêu trong tiếng Anh là Aggregate expenditure. Tổng chi tiêu kí hiệu là E hoặc AE.
Công thức xác định tổng chi tiêu như sau:
EA= CA+IA+GA+XA-MA= GDP
EP= CP+IP+GP+XP-MP= AD
Trong đó CA, IA, GA, XA, MA là mức thực hiện của chi tiêu cho tiêu dùng, đầu tư, mua hàng của chính phủ, xuất khẩu và nhập khẩu, còn Cp, Ip, Gp, Mp là các đại lượng dự kiến tương ứng. Vì tổng mức chi tiêu thực hiện (EA) phải bằng giá trị sản lượng (GDP) và tổng mức chi tiêu sự kiến (EP) chính là tổng cầu (AD).
Các thành phần của tổng chi tiêu:
- Theo vào công thức trên, có thể thấy các thành phần cấu thành tổng chi tiêu bao gồm: chi tiêu hộ gia đình, đầu tư, chi tiêu của chính phủ, xuất khẩu và nhập khẩu. Trong đó:
Tiêu dùng hộ gia đình hay chi tiêu hộ gia đình (C): Đây là tổng số tiền mà các cá nhân chi cho hàng hóa và dịch vụ trong suốt một năm.
Đầu tư (I): Đây là số tiền mà người dân và doanh nghiệp đầu tư vào chi tiêu vốn. Đây là những thứ như máy móc sản xuất mới, cải tiến bất động sản và mua các tòa nhà.
Chi tiêu của chính phủ (G): Đây là tổng số tiền mà chính phủ đã chi.
Xuất khẩu ròng (NX): Xuất khẩu ròng được xác định bằng cách trừ tổng nhập khẩu của một quốc gia khỏi tổng xuất khẩu (NX = X - M). Đây là thành phần duy nhất có thể là một số âm. Xuất khẩu ròng mang giá trị âm nếu nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu.
4. Chính sách quản lý cầu hay quản lý tổng cầu là gì?
Chính sách quản lý cầu hay quản lý tổng cầu, chính sách (demand management or aggregate demand managameni) là sự kiểm soát tổng mức cầu trong nền kinh tế bằng cách sử dụng chính sách tài chính và tiền tệ hoặc các chính sách khác để giảm bớt hay loại trừ những biến động trong quy mô hoạt động kinh tế. Mục tiêu chung của chính sách quản lý cầu là làm cho tổng cầu không bị thiếu hụt so với tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng - qua đó tránh tình trạng tổn thất sản lượng - và không quá cao, dẫn tới lạm phát.
5. Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước
1. Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể. Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện. Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế.
2. Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định. Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước.
3. Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên.
4. Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn sau:
a) Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
b) Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vay lại.
5. Bội chi ngân sách địa phương:
a) Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;
b) Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
c) Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước.
6. Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương:
a) Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp;
b) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp lớn hơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp;
c) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏ hơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp.