1. Cách viết một bài nghị luận xã hội
a. Mở bài:
Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm (nhan đề, tên tác giả...) và ý kiến khái quát của người viết về tác phẩm. Chia sẻ với người đọc lí do bạn lựa chọn tác phẩm này để phân tích, đánh giá, điều khiển bạn yêu thích tác phẩm.
b. Thân bài
- Tóm tắt nội dung chính của truyện
- Phân tích, đánh giá về chủ đề của truyện dựa trên cứ liệu dẫn ra từ tác phẩm
- Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm. Mỗi phân tích, đánh giá đều cần có những chi tiết tiêu biểu được dẫn ra từ tác phẩm.
c. Kết bài:
Tóm lược các nhận định trong phần thân bài, khẳng định giá trị của tác phẩm, đưa ra một số ý tưởng mở rộng....
2. Bài nghị luận văn học 1: Mùa xuân nho nhỏ
Không biết đã từng còn, sẽ còn có bao nhiêu bài viết về Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải ? Vậy điều gì đã làm nên sức sống lâu bền cho bài thơ ? Mỗi người sẽ có một cách lý giải không hoàn toàn giống nhau, nhưng chắc chắn sẽ gặp nhau ở một điểm chung cơ bản là: chính sự chân thành, giản dị của cảm xúc đã làm nên sức sống của tác phẩm này.
Trước hết cần phải khẳng định rằng, Thanh Hải hoàn toàn có quyền tự hào về cái "tôi" đã sống hết "công suất" từ tuổi 17 đến tuổi 50 của mình. Thông thường, khi con người biết chắc chắn rằng, mình đang sống trong những giây phút cuối cùng cuộc đời thì bao giờ người ta cũng tự soát xét lại nhân cách của mình một cách nghiêm khắc nhất. Vì thế, lúc nằm trên giường bệnh, Thanh Hải mới thấm thía nỗi cô đơn, bất lực của một cá nhân khi đang dần dần bị tách ra khỏi cộng đồng, một con người đang dần dần bị tách ra khỏi cộng đồng, một con người đang bị tước dần quyền làm việc. Chính tình cảm bị nén chặt đã bùng nổ thành khát vọng , thành bệ phóng cho sự sáng tạo. Nếu bản chất của sự sáng tạo là sự bất tử thì đây chính là khoảnh khắc thăng hoa tất cả những gì mà Thanh Hải đã chiêm nghiệm để viết thành bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. Và khổ thơ đầu đã xuất hiện thật tự nhiên:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
Khi Thanh Hải viết "Mọc giữa dòng sông xanh/ Một bông hoa tím biếc" thì đây không chỉ là ngoại cảnh hay tâm cảnh, mà còn mang dáng dấp của một triết lý sống và sự bất tử. Dòng sông xanh vừa là chính nó và cũng vừa là một hình tượng về thời gian. Đó là dòng chảy vô thuỷ vô chung, vô tận và lạnh lùng của thời gian. Nó vừa là tác nhân tạo dựng, nâng niu "Một bông hoa tím biếc", đồng thời cũng là một tác nhân bào mòn, huỷ diệt tất cả. "Bông hoa tím biếc" đang hiện hữu kia sẽ trở thành hoài niệm để ngày mai sẽ là một bông hoa khác, cùng loài. Dòng sông thì vĩnh cửu, còn bông hoa dù có rực rỡ đến đâu chăng nữa thì cuối cùng cũng trở thành dĩ vãng. Cũng như mỗi đời người, dù có chói sáng đến đâu chăng nữa, rốt cuộc vẫn phải ra đi theo quy luật sinh tử của muôn đời.
Thông qua các hình tượng nghệ thuật, chúng ta có thể cảm nhận được ý nghĩa đích thực của cuộc sống, ngay trong mạch cảm xúc buồn nhớ mệnh mông, trong tâm tưởng cả ông vẫn vang lên những âm thanh reo vui của cuộc sống: " Ơi con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời". Tiếng chim hót là âm thanh của tự nhiên nhưng nó đã cộng hưởng với tiếng reo vui trong tâm hồn của nhà thơ, đó là tiếng reo vui trong tâm hồn của nhà thơ, đó là tiếng reo vui của niềm tự hào về cái "tôi" trọn vẹn và thanh thản. Một bông hoa có thể sẽ tàn những vẻ đẹp của nó thì vẫn còn ám ảnh lâu bền trong tâm trí của con người. Một con người có thể ra đi vĩnh viễn, nhưng những đóng góp có giá trị về tinh thần của con người ấy thì có thể sẽ còn mãi với thời gian. Với niềm tự hào chân thành ấy, nhà thơ dường như đã bứt hẳn ra khỏi tâm trạng man mác hư vô để hoà mình vào không khí rộn rã, náo nức của mùa xuân; để cảm nhận và thâu nhận được cái "hồn vía" tưởng như rất vô hình của không gian và thời gian đang thấm đẫm sắc xuân, hương xuân: "Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng". Chúng ta đã từng bất lực trước tiếng huyền trong Thơ duyên của Xuân Diệu, một "vị xa xăm" trong Quê hương của Tế Hanh, nay có lẽ cũng sẽ bất lực trước "Từng giọt long lanh rơi" của Thanh Hải? Bất lực vì không thể giải thích một cách tường minh xem "tiếng huyền" là tiếng gì, "vị xa xăm" là vị gì và "từng giọt" là giọt gì, nhưng vẫn cảm nhận bằng linh giác, bằng trí tưởng tượng.... về cái hay, về vẻ đẹp và sự độc đáo của các hình tượng đa nghĩa này. Nếu "tiếng huyền" là những âm thanh xao xuyến ngân vâng trong tâm hồn đã trở thành âm hưởng chủ đạo cho "một cõi yêu thương", "vị xa xăm" là hoài niệm về một thời thăm thẳm thì "từng giọt" có thể là những niềm vui lớn có khả năng làm hồi sinh lòng ham sống của một con người đang ý thức rất sâu sắc về cái chết không sao cưỡng nổi đang đến với mình từ từ, lạnh lùng và tàn nhẫn! Hiểu như thế chúng ta mới có thể đồng cảm và xúc động trước một hành động tha thiết hướng tới sự sống của nhà thơ: "Tôi đưa tay tôi hứng"!
Từ hành động tha thiết hướng tới sự sống ấy, tác giả đã tái hiện cuộc sống lao động và chiến đấu sôi nổi, háo hức mà mình từng gắn bó suốt đời:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầu trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài trên nương
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao....
Đây là niềm vui được bắt nguồn từ niềm tin sắt đá và tương lai của đất nước:
Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
Đất nước hình thành, tồn tại và phát triển trong chiều dài của "bốn nghìn năm" lịch sử và chiều sâu của những suy nghĩ trăn trở để toả sáng "như vì sao" trong ký ức của mỗi con dân đất Việt. Chính "vì sao" ấy là vầng hào quang của quá khứ và cũng là điểm tựa tinh thần cho hiện tại. Như mọi công dân chân chính khác, trong cái "vất vả và gian lao" của đất nước, tác giả cũng có phần đóng góp tự nguyện như một lẽ sống:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến
Cái "tôi" của nhà thơ như một dòng suối nhỏ khiêm nhường đã hoà vào cái "ta" của "dòng sông xanh" trên quê hương, đất nước mình. Từ vị thế của cái "ta, chúng ta", tức là vị thế của từng người trong cuộc, nhà thơ đã chân thành tâm sự với bạn bè, đồng chí của mình về một lẽ sống thật giản dị.
Bài thơ ra đời vài tháng 11 năm 1980, đó là một năm trong thập kỷ (1976 - 986) khi đất nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn đặc biệt gay gắt. Làm sao Thanh hải lại không buồn về những điều đó? Nguyễn Duy "giật mình" trước "đột ngột vầng trăng tròn" thì Thanh Hải chắc cũng giật mình đang và sẽ mãi mãi tồn tại; đó là những giá trị vĩnh cửu; đó là cái đẹp vĩnh cửu.... Thế còn cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người? Trong quan hệ giữa cái "tôi" và cái "ta"? Liệu có vĩnh cửu không? Thanh Hải không trả lời trực tiếp câu hỏi này mà thay vào đó bằng một lời nhắn nhủ. Ông đã nhắn nhủ điều gì? " Ta làm con chim hót/Ta làm một cành hoa/ Ta nhập vào hoà ca/ Một nốt trầm xao xuyến". Làm con chim thì phải có hương sắc riêng. Nhưng những cái riêng ấy chỉ được xác lập giá trị trong quan hệ với các chung, tức là những cá thể cùng loài xung quanh. Không thể và cũng không nên so sánh giữa tiếng hót của con chim với hương sắc của bông hoa, cái nào có ích hơn, cái nào quan trọng hơn? Mỗi người cũng vậy, có một cái giá trị riêng không thể so sánh. Vì thế trong bản "hoà ca" đoàn kết, nên có người ở vị trí khiêm tốn như một "nốt trầm". Nhưng một "nốt trầm" ấy phải có bản sắc riêng của mình như tiếng hót riêng của mỗi con chim và hương sắc riêng của mỗi bông hoa bởi đó là bản "hoà ca" có "nhạc luật" chứ không phải là "hoà tan": một cách vô vị, nhạt nhẽo?
Nếu mùa xuân của đất nước là một mùa xuân lớn thì mua xuân lớn lại được kết dệt bởi muôn vàn những mùa xuân nhỏ khác, đó là mùa xuân của mỗi đời người:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Mỗi đời người lại giống như một dòng suối nhỏ lặng lẽ góp nước cho một dòng sông lớn để dòng sông lớn ấy góp nước cho đại dương. Cái sự "góp nhặt" ấy cứ lặp đi lặp lại tới muôn đời, cho dù là có tự giác hay không tự giác thì nó vẫn cứ diễn ra như vậy, không thể nào khác. Điều quan trong ở chỗ "góp nhặt" ấy phải kiên trì, bền bỉ trong mọi hoàn cảnh thăng trầm của cuộc đời để cuối cùng nó vượt lên hoàn cảnh như một đức hy sinh cao cả: "Dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc". Đó chính là phẩm chất cao quý của ý thức tự nguyện hi sinh cái "tôi" cho cái "ta" bao la của mùa xuân đất nước:
Mùa xuân - ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước ngon ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiềm đất Huế
Mùa xuân đẹp quá khiến ta bất giác cất lên lời. Tất cả đều xuyến xao, bồi hồi trong giai điệu buồn của câu "Nam ai" và chất trữ tình của câu "Nam bình"; trong "nhịp phách tiền" rất đỗi thân quen nhưng dường như bỗng trở nên da diết như một lời chào tiễn biệt? Trong cái mênh mông của "Non nước ngàn dặm", nơi nào mà chẳng thấm đẫm tình bạn, tình người và tình yêu? Nơi nào mà ra chẳng lưu luyến, bâng khuâng? Vì thế mà nỗi nhớ nhung cũng mênh mông không bến bờ. Giờ đây, nằm trên giường bệnh, ta dường như đang trôi trong vầng hào quang của hoài niệm... Cuộc đời ồn ào náo động xa dần, mơ hồ, văng vẳng... nhưng dường như càng xa nó càng trở nên cồn cào hơn, tha thiết hơn.
3. Luyện tập: Lập dàn ý phân tích bài Chữ người tử tù
Gợi ý:
a. Mở bài:
Giới thiệu khái quát về Nguyễn Tuân: là một nhà văn cô cùng tài hoa, uyên bác
Giới thiệu chung về tác phẩm "Chữ người tử tù"
b. Thân bài
- Tình huống truyện đặc biệt
+ Huấn Cao - một tử tù và viên quản ngục tình cờ gặp nhau
+ Tình huống độc đáo này đã làm nổi bật hình tượng Huấn Cao như thế nào?
- Vẻ đẹp các nhân vật
+ Nhân vật Huấn Cao
+ Nhân vật quản ngục
- Cảnh cho chữ - Cảnh tượng xưa nay chưa từng có
+ Không gian: ngục tối ẩm ướt, bẩn thỉu
+ Thời gian: đêm khuya
+ Dấu hiệu
+ Sự hoán đổi ngôi vị
c. Kết bài: Khái quá giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Bạn đọc có thể tham khảo bài viết: Nghị luận xã hội về ý nghiã của niềm tin trong cuộc sống hay nhất