Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

-Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP.

Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự đã hướng dẫn về vấn đề này.

Nội dung Điều 11 của Thông tư này hướng dẫn:

1. Về yêu cầu điều tra

Thời điểm ban hành yêu cầu điều tra: ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra, Kiểm sát viên phải kịp thời trao đổi với Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra.

Mục đích của việc ban hành yêu cầu điều tra nhằm: bảo đảm để Điều tra viên, Cán bộ điều tra kịp thời thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án.

     Về hình thức của yêu cầu điều tra: có 2 hình thức

     Thứ nhấtbằng lời nói: Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói trong quá trình trực tiếp kiểm sát các hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, nhận biết giọng nói. Yêu cầu bằng lời nói thường được thực hiện ngay.

     Thứ haibằng văn bản: Đối với các hoạt động điều tra khác, Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập.

     Về hình thức, văn bản yêu cầu điều tra phải thực hiện đúng quy định theo Mẫu số 83/HS ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của  VKSND tối cao về Mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố.

     Về nội dung, yêu cầu điều tra bằng văn bản phải chỉ rõ căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số…; Quyết định khởi tố bị can số ... đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị khởi tố về tội gì?; Nêu rõ lý do yêu cầu điều tra; văn bản phải đảm bảo tính pháp lý có đủ số, dấu, chữ ký của Kiểm sát viên.

     Phần nội dung yêu cầu phải ghi rõ yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành điều tra, xác minh làm rõ những nội dung gì (1, 2, 3…)? Mặt khác, phải ghi rõ tên cơ quan có thẩm quyền điều tra có trách nhiệm thực hiện yêu cầu trên và yêu cầu tiến hành điều tra theo quy định của BLTTHS. Văn bản yêu cầu điều tra phải được Kiểm sát viên đưa vào hồ sơ vụ án. Một vụ án, Kiểm sát viên có thể ban hành nhiều yêu cầu điều tra.

2. Trách nhiệm thực hiện yêu cầu điều tra

     Theo quy định tại khoản 1 Điều 167 BLTTHS năm 2015 thì cơ quan có thẩm quyền điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của VKS trong giai đoạn điều tra. Người có thẩm quyền tiến hành điều tra, tiến hành một số hoạt động điều tra là Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án có trách nhiệm phải thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên.

     Nhận được yêu cầu điều tra nếu chưa rõ yêu cầu hoặc thấy cần thiết, Điều tra viên, Cán bộ điều tra có thể trao đổi với Kiểm sát viên để làm rõ những nội dung của yêu cầu điều tra.

     Để tránh tình trạng đùn đẩy, chậm chễ do không nhất trí về nội dung yêu cầu điều tra, trường hợp có nội dung yêu cầu điều tra mà Điều tra viên, Cán bộ điều tra không nhất trí, thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát để thống nhất về nội dung yêu cầu điều tra.

     Đối với trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát hoặc đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát thì Cơ quan điều tra phải nêu rõ lý do trong Bản kết luận điều tra.

3. Có bắt buộc các vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải có Bản yêu cầu điều tra không?

Khoản 1 Điều 26 Quy chế tạm thời Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) quy định: “Trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự, khi cần làm rõ về tội phạm, người phạm tội và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hoặc để hoàn thiện thủ tục tố tụng, Kiểm sát viên đề ra yêu cầu điều tra. Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng văn bản hoặc bằng lời nói.”

Như vậy, Kiểm sát viên chỉ ban hành Bản yêu cầu điều tra trong trường hợp cần làm rõ về tội phạm, người phạm tội và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hoặc để hoàn thiện thủ tục tố tụng, hay nói cách khác khi Điều tra viên điều tra chưa toàn diện, triệt để, còn có tồn tại trong việc thu thập chứng cứ và vi phạm thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án. Trong những vụ án Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nhận thấy không cần phải làm rõ vấn đề gì, không có vi phạm thì không nhất thiết phải ban hành Bản yêu cầu điều tra.

4. Vai trò của yêu cầu điều tra

Yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án hình sự thực hiện nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật.

Yêu cầu điều tra có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc điều tra vụ án hình sự nói riêng và cả quá trình xử lý vụ án nói chung, nhiều trường hợp yêu cầu điều tra có ý nghĩa quyết định việc thành bại trong việc xử lý vụ án, bị can, thể hiện rõ và đầy đủ nhất chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra. Cụ thể:

Thứ nhất, yêu cầu điều tra có tính định hướng cho công tác điều tra nói chung và xử lý vụ án, bị can nói riêng.

Thứ hai, giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, triệt để, nhanh chóng và kịp thời.

Thứ ba, yêu cầu điều tra không chỉ nêu và quan tâm đến việc điều tra thu thập chứng cứ mà còn đi sâu phân tích những nội dung cần hoàn thiện về thủ tục tố tụng vì trong quá trình thu thập chứng cứ Điều tra viên chưa thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục khi tiến hành điều tra. Bám sát các quy định về thời hạn điều tra, trong các bản yêu cầu điều traKiểm sát viên còn có thể nêu và xác định thời hạn còn lại để yêu cầu Điều tra viên đẩy nhanh tiến độ điều tra, đảm bảo cho việc xử lý vụ án kịp thời, đúng thời hạn luật định.

Thứ tư, yêu cầu điều tra còn phản ánh trình độ, năng lực của cá nhân Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành.Nếu yêu cầu điều tra đúng sẽ giúp việc điều tra được đúng hướng, nhanh chóng làm rõ bản chất vụ án, kết luận được đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không làm oan người vô tội. Nếu không có yêu cầu điều tra hoặc yêu cầu điều tra không có căn cứ hoặc không chính xác, kịp thời và Điều tra viên yếu kém về năng lực và trình độ chuyên môn thì vụ án giải quyết không triệt để, bị kéo dài hoặc không chính xác, án không giải quyết được (án thối) làm xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào cơ quan pháp luật, ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm.

5. Quy định về thực hiện quyền yêu cầu trong bổ sung, làm rõ chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án

Tùy theo từng giai đoạn mà quyền yêu cầu bổ sung, làm rõ chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án sẽ khác nhau. Trong giai đoạn điều tra, KSV trực tiếp kiểm sát hồ sơ nhận thấy các tài liệu trong hồ sơ thiếu chứng cứ để chứng minh một trong số những vấn đề được quy định tại Điều 85, Điều 441 BLTTHS năm 2015 mà không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật thì có thể ban hành yêu cầu điều tra để làm rõ. Trước khi ban hành yêu cầu điều tra (hoặc yêu cầu điều tra bổ sung), KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, đánh giá từng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, như:  Kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai bị can và những người tham gia tố tụng khác, các tài liệu về đặc điểm nhân thân của bị can…, đối chiếu với các dấu hiệu cấu thành tội phạm, những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, từ đó xác định các vấn đề còn chưa rõ, chưa đầy đủ, có mâu thuẫn, làm cơ sở cho việc lập bản yêu cầu điều tra.

Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên (ĐTV) thực hiện tốt việc chuyển giao tài liệu, chứng cứ mà hoạt động điều tra không có KSV tham gia theo khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015 để kiểm sát; đây cũng là cách thức để nắm chắc tiến độ điều tra của ĐTV nhằm phát hiện những mâu thuẫn trong các lời khai, bản cung, những vấn đề chưa được làm rõ hoặc còn thiếu, để từ đó trao đổi trực tiếp với ĐTV hoặc bổ sung yêu cầu điều tra để ĐTV thực hiện.

Ngoài ra, KSV cần lưu ý thường xuyên theo dõi, nắm chắc tiến độ điều tra, nghiên cứu kỹ tài liệu chứng cứ do ĐTV thu thập, chủ động phối hợp với ĐTV làm rõ những vấn đề cần chứng minh ngay trong giai đoạn điều tra vụ án đơn cử như trong những vụ án có người bào chữa (Điều 72 BLTTHS năm 2015), người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 84 BLTTHS năm 2015), có nhiều đơn thư khiếu nại về chứng cứ chứng minh vụ án hoặc khiếu nại quá trình tiến hành tố tụng thì KSV cần nghiên cứu kỹ nội dung các đơn thư, tài liệu mà họ xuất trình, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện việc kêu oan của bị can, phản ánh của bị hại…; các biên bản, tài liệu liên quan đến hoạt động điều tra mà bị can, bị hại khiếu nại; từ đó xem xét việc kêu oan, khiếu nại của bị can, bị hại là có căn cứ hay không, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở để kết luận chấp nhận hay không chấp nhận việc kêu oan, khiếu nại của bị can, bị hại chưa; nếu chưa đủ cơ sở để kết luận thì KSV có thể trực tiếp hỏi cung bị can làm rõ, bổ sung hoặc ban hành yêu cầu điều tra yêu cầu CQĐT làm rõ những nội dung, luận cứ mà bị can, bị hại đưa ra. Đây là một trong những cơ sở đảm bảo hoạt động điều tra khách quan, toàn diện theo quy định của BLTTHS, phục vụ cho KSV tranh luận khi bị can, bị hại tiếp tục nêu lại các vấn đề này tại tòa.

Bài viết tham khảo:

1. Kinh nghiệm xây dựng bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên – Nguyễn Cao Cường (Tạp chí Kiểm sát);

2. Yêu cầu điều tra và vai trò của yêu cầu điều tra trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự; Nguyễn Sơn-Phòng 1 (Ghi rõ nguồn Cổng Thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng)

3. Kinh nghiệm thực hiện quyền yêu cầu của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; Lê Xuân Quang ( Kiemsat.vn)