1. Triều đại phong kiến nào nối tiếp nhà Đinh?

Triều địa phong kiến nối tiếp nhà Đinh là nhà Tiền Lê, cuối năm 979, nội bộ triều Đinh xảy ra một số biến cố. Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị ám sát, vua Đinh Toàn mới 6 tuổi, Lê Hoàn được cử làm phụ chính, nhà Tống lăm le xâm phạm bờ cõi Đại Cồ Việt, trước tình thế hiểm nghèo, các tướng lĩnh và quân đội đồng lòng suy tôn Lê Hoàn lên làm vua lập nên nhà Tiền Lê.

 

2. Vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê

Lê Hoàn (Lê Đại Hành)

 

3. Đôi nét về nhà Tiền Lê

Dưới thời Tiền Lê và thời kỳ đầu của nhà Lý ( 980 -1054) , Nhà nước Đại Cồ Việt tiếp tục phát triển về mọi mặt; nền độc lập, tự chủ của dân tộc được củng cỗ vững chắc.

- Về tổ chức bộ máy nhà nước

Chính quyền trung ương thời Tiền Lê được giữ nguyên như thời Đinh, vua nắm mọi quyền hành cả dân sự lẫn quân sự; dưới vua là các chức quan văn, võ, hầu hết là những người có công phò tá nhà vua lên ngôi. Vua Lê Hoàn (tức Lê Đại Hành) vẫn đóng đô ở Hoa Lư; năm 984, cho xây dựng nhiều cung điện với quy mô to lớn hơn. Năm 1006, Lê Long Đĩnh cho sửa đổi quan chế và triều thục của các quan văn, võ và tăng đạo theo đúng như chế độ của nhà Tống. Chế độ phong tước và cấp thái ấp dưới thời Tiền lê được thực hiện quy củ hơn trước. Thái tử được phong tước Đại Vương, còn các hoàng tử đều được phong tước Vương và được chia đất để cai trị.

Thời nhà Lý: Các vua Lý tự xưng là thiên tử, lập các ngôi Hoàng Hậu và Thái Tử, phong tước cho con cháu, người thân trong họ hàng cùng quan lại có công tôn phù. Hệ thống quan chức được chia làm 9 phẩm cấp; ngoài ra, còn có một số cơ quan chuyên trách, giúp việc cho vua.

Chính quyền địa phương đầu thời Tiền Lê vẫn giữ nguyên 10 đạo như thời Đinh; đến năm 1002, đổi các đạo thành lộ, dưới có phủ, châu, giáp, xã.

Sang thời Lý, năm 1010, Lý Công Uẩn chia nước thành các lộ và phủ; dưới phủ là huyện và cuối cùng là hương, giáp; miền núi và vùng xa trung ương thì chia thành châu, trại. Đây là công cuộc cải tổ hành chính có quy mô lớn, góp phần quan trọng trong công cuộc quản lý toàn diện đất nước.

- Về tổ chức quân đội

Thời Tiền Lê và thời kỳ đầu nhà Lý, việc xây dựng lực lượng quân sự rất được chú trọng, nhằm bảo vệ nền độc lập và chủ quyền quốc gia, dân tộc. Bên cạnh quân đội thường trực của triều đình (thiên tử quân, cấm vệ quân...) được tuyển lựa cẩn thận và tổ chức, huấn luyện chu đáo, còn có quân đội địa phương (dân binh, hương binh) làm nhiệm vụ canh phòng, bảo vệ các lộ, phủ, châu và có thể được chính quyền trung ương điều động bất cứ lúc nào cần thiết. Cùng với lực lượng bộ binh, lực lượng thủy quân cũng được tập trung xây dựng. Thời Tiền Lê đã có những chiến thuyền lớn, được trang bị đầy đủ. Thời Lý, quân đội có nhiều binh chủng phong phú hơn.

- Về luật pháp

Dưới thời Tiền Lê, cùng với việc củng cố và tăng cường thiết chế bộ máy nhà nước quân chủ, nhà vua cũng quan tâm đến việc xây dựng pháp luật và đề cao luật pháp. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1002, vua Lê Đại Hành "định luật lệ"; tuy nhiên, việc xét xử ở thời kỳ này còn khá tùy tiện.

Sang đến thời nhà Lý, năm 1042, Lý Thái Tông cho soạn bộ "Hình thư" gồm 3 quyển, xuống chiếu ban hành trong dân gian. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam, thể hiện một bước tiến quan trọng trong việc trị nước của nhà nước phong kiến độc lập, tự chủ. Ở các làng xã, hình thức luật tục (tập quán pháp) vẫn duy trì và được mọi người tuân theo.

- Về kinh tế

Nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu. Nông dân được làng xã chia ruộng để cày cấy, nộp thuế và đi lính cho nhà vua. Các vua rất chú ý khuyến khích nông nghiệp. Lê Đại Hành khi làm vua cho xây dựng nhiều công trình, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp để chấn hưng đất nước. Ông là vị vua mở đầu cho lễ tịch điền vào mùa xuân hàng năm, mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Lê Đại Hành cũng là vị vua đầu tiên tổ chức đào sông. Công trình đào sông nhà Lê do Lê Hoàn khởi dựng là con đường giao thông thủy nội địa đầu tiên của Việt Nam. Sang thời nhà Lý, triều đình cũng thi hành nhiều chính sách trọng nông, khuyến nông. Sức lao động và sức kéo trong nông nghiệp được nhà nước hết sức bảo vệ; do đó, sản xuất nông nghiệp ổn định và phát triển hơn trước.

Các nghề thủ công dưới thời Tiền Lê và đầu thời Lý như nghề gốm, nghề dệt, nghề mộc, khai mỏ, luyện sắt, đúc đồng, chạm khắc, sơn thếp...đều được phát triển và có nhiều tiến bộ lớn.

Ngoài ra, ở thời kỳ này, việc giao thương, buôn bán, trao đổi giữa các địa phương trong nước và với nước ngoài khá phát triển. Vua Lê Đại Hành và các vua Lý đều cho đúc tiền đồng để lưu thông rộng rãi và có dùng thêm tiền đồng Trung Quốc thời Đường, Tống.

- Về văn hóa

Đạo Phật vẫn giữ vai trò lớn trong đời sống xã hội Đại Cồ Việt thời Tiền Lê và thời kỳ đầu nhà Lý. Nhiều nhà vua và quý tộc đã theo đạo Phật, đề cao tư tưởng từ bi, bác ái. Trong triều, có hệ thống tăng quan, một số được phong là Quốc sư. Các loại hình văn hóa dân gian đã có từ thời Đinh vẫn được duy trì và phát triển. Bên cạnh đó, xuất hiện thêm loại hình hát tuồng

- Về đối ngoại

Tiếp nối truyền thống từ thời Đinh, sang thời Tiền Lê, sau chiến thắng quân Tống (năm 981), vua Lê Đại Hành vẫn tỏ ra thần phục và cử sứ bộ sang dâng cống phẩm, sính lễ đầy đủ cho nhà Tống. Mặc dù vậy, triều đình nhà Tiền Lê vẫn luôn tỏ ra tinh thần tự cường và độc lập. Do đó, nhà nước Đại Cồ Việt thời Tiền Lê được gần 30 năm yên tĩnh, để củng cố và phát triển mọi nguồn lực ở trong nước.

Những năm đầu thời Lý, quan hệ hòa hiếu với nhà Tống tiếp tục được chăm lo củng cố. Đối với Chăm-pa ở phía Nam, đến năm 1018, quan hệ Việt - Chăm tương đối tốt đẹp, nhưng những năm về sau, quan hệ Việt - Chăm trở nên căng thẳng, các vua Lý phải si quân hoặc thân chinh đi đánh dẹp.

 

4. Lê Hoàn

 4.1 Tướng giỏi của nhà Đinh mở đầu triều đại Tiền Lê

Lê Hoàn sinh năm 941. Có nhiều thảo luận về quê hương của ông, tuy nhiên kết luận cuối cùng chưa được đưa ra. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Hoàn người Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay). Sớm mô côi cha mẹ, ông được người họ Lê ở làng Mía (nay thuộc xã Xuân Tân, Thọ Xuân) nhận làm con nuôi. Khi đó, người này đã nhận xét Lê Hoàn "Tư cách đứa trẻ này, người thường không sánh được"

Đến tuổi trưởng thành, Lê Hoàn theo giúp Nam Việt vương Đinh Liễn. Tính tình phóng khoáng lại có chí lớn, ông được Đinh Bộ Lĩnh khen là "người trí dũng, chắc thế nào cũng làm được việc, bèn giao cho cai quản một nghìn quân sĩ".

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, tức Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Đé năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. Lúc này, Lê Hoàn được làm Thập đạo tướng quân.

Nmă 979, vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Đinh Toàn khi đó mới 6 tuổi lên nối ngôi. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được cử làm nhiếp chính đảm đương việc nước, xưng là Phó Vương và trực tiếp dẹp tan những lực lượng chống đối trong nội bộ triều đình.

Dẹp được hiểm họa nội bộ nhưng đất nước lại đứng trước họa xâm lăng mới từ phương Bắc. Tháng 6/980, Tri Ung Châu của nhà Tống là Hầu Nhân Bảo dâng khuyên vua Tống lựa chọn thời cơ nước Nam đang rối ren, vua nhỏ, đem quân chinh phạt. Vua Tống nghe theo, trước tình hình đó, Lê Hoàn được quân sĩ và Dương Thái Hậu đồng tình tôn lên ngôi vua thay Đinh Toàn. 

Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân. Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng và các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói rằng : Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn. Quân sĩ nghe vậy đều hô Vạn tuế. Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng Đế"

Tháng 7 năm Canh Thìn (980), Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, khi ấy mới 39 tuổi lên ngôi vua, tức vua Lê Đại Hành, mở đầu vương triều Tiền Lê.

 

 4.2 Gần 4 tháng chống quân Tống

Sau khi lên ngôi, Lê Đại Hành, triều đình Hoa Lư và quân dân Đại Cồ Việt lập tức tổ chức kháng chiến chống sự xâm lược của nhà Tống. Nhưng vua Lê Đại Hành không vội vàng mang quân đi đánh ngay mà tìm cách hòa hoãn trước.

Lê Đại Hành đã hai lần sai sứ thần đem dâng sản vật, biểu cầu cho nhà Tống để xin phong vương cho Đinh Toàn nhưng những động thái này đều không được chấp nhận. Thực chất, những hành động ngoại giao của vua là nhằm tận dụng cơ hội, tránh cuộc chiến tranh và tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành một cuộc chiến đấu chấm xâm lược, bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước.

Cuối năm 980, 30.000 quân Tống theo hai đường thủy và bộ do Hầu Nhân Bảo và Lưu Trừng chỉ huy ồ ạt tiến vào xâm lược Đại Cồ Việt. Để chặn đứng quân địch, Lê Đại Hành bố trí lực lượng dọc theo tuyến sông Bạch Đằng, Kinh Thầy cho đến vùng Lục Đầu Giang, trong đó tập trung đông nhất ở cửa sông Bạch Đằng vì đây là cửa ngõ yết hầu từ phương Bắc vào. Vua trực tiếp chỉ huy quân sĩ đánh giặc.

Tận dụng sự chủ quan, ngạo mạn của quân xâm lược và chọn thời cơ tốt, vua Lê Đại Hnafh đã giết được tướng giặt là Hầu Nhân Bảo, đánh đuổi cánh quân thủy của nhà Tống, khiến cánh quân bộ hốt hoảng rút lui nhưng vẫn bị truy đuổi tiêu diệt. Kết quả, cuộc chiến đấu chống Tống thắng lợi chỉ sau chưa đầy 4 tháng, từ cuối năm Canh Thìn (980) đến cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981)

Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Triều đại phong kiến nào nối tiếp nhà Đinh? Vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê là ai? Hy vọng bài viết đã cung cấp cho quý bạn đọc những thông tin hữu ích. Xin chân thành cảm ơn!