1. Trình độ văn hoá là gì?
Xin thưa rằng, hiện nay, chưa có một khái niệm chung thống nhất giải thích về thuật ngữ này để áp dụng cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức hiểu một cách nhất quán và ghi chép chuẩn xác thông tin về trình độ văn hoá. Theo giải thích trong từ điển Tiếng Việt, khái niệm văn hoá có rất nhiều nét nghĩa.
Thứ nhất, văn hoá có thể hiểu là những giá trị vật chất, tinh thần truyền thống mang đặc trưng bản sắc lâu đời của dân tộc. Ví dụ, nét văn hoá đặc trưng của người Việt thể hiện ở lễ nghi (sự tôn kính, thờ cúng tổ tiên, các lễ hội văn hoá làng xã,..) các đồ thủ công truyền thống như mây tre đan, vải thổ cẩm và các giá trị cộng đồng, gia đình mà người Việt tôn trọng,...
Thứ hai, văn hoá là tri thức, kiến thức mà con người đạt được thông qua hoạt động học tập, rèn luyện.
Thứ ba, văn hoá là thái độ, cách hành xử của con người trong đời sống xã hội.
Từ giải thích nêu trên, nếu từ "văn hoá" đứng một mình thì bản thân nó trở thành một phạm trù rất rộng, bao hàm cả đời sống vật chất, tinh thần của cả một dân tộc từ xưa tới nay. Còn nếu đặt cạnh từ "Trình độ" - Trình độ văn hoá thì nét nghĩa thứ hai và thứ ba được cho là phù hợp nhất, tức, nói tới trình độ văn hoá nghĩa là nói tới trình độ tri thức và trình độ hiểu biết, lễ nghĩa của con người.
Tuy nhiên, hiện nay, nhiều người đang đánh đồng khái niệm trình độ văn hoá là trình độ học vấn. Điều này có nghĩa là chúng ta cho rằng, hỏi về trình độ văn hoá là đang hỏi về việc mình đã học hết lớp mấy. Ví dụ: Học hết lớp 12 thì ghi trình độ văn hoá là 12/12. Học hết lớp 9 thì ghi trình độ văn hoá 9/12...
Cách hiểu này tuy đúng như thực sự chưa đủ, vì chúng ta đã bỏ quên hẳn một nét nghĩa nữa của trình độ văn hoá đó là "Văn hoá thể hiện sự hiểu biết lễ nghĩa của con người". Ví dụ, trong xã hội ngày nay, có người học vấn cao - học đại học, tiến sỹ hoặc giáo sư nhưng cách cư xử thô lỗ luôn thù hằn với đồng nghiệp, khinh nhục người kém hơn mình, những thanh niên được học hành tử tế mà lái xe ra đường lượn lách, đánh võng, lên mạng tuyên truyền nhưng phát ngôn thô tục, gây ảnh hưởng tới thế hệ trẻ,... những người như vậy, hay bị xã hội lên án là "những người không có văn hoá". Ngược lại, có những người học ít nhưng cách đối nhân, xử thế hoàn toàn khiến mọi người xung quanh yêu mến, tâm phục, khẩu phục - những người này có thể không có bằng cấp nọ kia nhưng vẫn được cho là "con người có văn hoá".
2. Cách ghi trình độ văn hoá đúng nhất
"Tôi không được đi học thì ghi trình độ văn hoá trong Sơ yếu lý lịch như thế nào?"
"Tôi không biết chữ thì có phải ghi trình độ văn hoá không?"
"Ghi trình độ đại học hay chỉ ghi trình độ 12/12 thôi"? vv
Đây là những câu hỏi mà Bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 của Luật Minh Khuê thường xuyên nhận được. Như đã nêu ở trên, việc không có quy định chung thống nhất nên cách ghi trình độ văn hoá gồm những nội dung nào đã khiến nhiều người lúng túng khi không biết "trường hợp của mình" phải ghi ra làm sao? Rồi ghi như thế này liệu đã đúng chưa? Vậy, phải ghi trình độ văn hoá thế nào cho đúng? Chúng tôi xin chia thành hai trường hợp như sau:
2.1. Trường hợp có hướng dẫn cách ghi trình độ văn hoá của cơ quan có thẩm quyền
Trong một số lĩnh vực như hoạt động quản lý cán bộ, công chức, viên chức hay lĩnh vực quản lý, sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật, các cơ quan chủ quản và cơ quan có liên quan đã ban hành những hướng dẫn về cách ghi lý lịch của cá nhân trong đó có hướng dẫn ghi trình độ văn hoá như thế nào cho đúng biểu mẫu.
Cụ thể:
Trong lĩnh vực quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, Bộ Nội vụ đã ban hành quyết định số 06/2007/QĐ-BNV và Quyết định số 02/2007/QĐ-BNV. Tại phần I - Phần Sơ lược lý lịch của cán bộ, công chức, không có thuật ngữ Trình độ văn hoá - mà thay vào đó là: Trình độ giáo dục phổ thông, Trình độ chuyên môn cao nhất, Trình độ lý luận chính trị, Trình độ quản lý nhà nước, Trình độ ngoại ngữ, Trình độ tin học,... Cách ghi được hướng dẫn như sau:
Trình độ giáo dục phổ thông: Lớp 12/12 hoặc Lớp 10/10
Trình độ chuyên môn cao nhất: Tiến sĩ / Thạc sĩ / Cử nhân ...
Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp (hoặc Trung cấp hoặc Sơ cấp và tương đương).
Trình độ quản lý nhà nước: Chuyên viên cao cấp / Chuyên viên chính / Chuyên viên '...
Trình độ ngoại ngữ: Anh C, Pháp B, Cử nhân Anh văn, Thạc sĩ Anh văn,...
Trình độ tin học: Tin học Văn phòng A, B, C; Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ,..
Trong lĩnh vực thu thập, quản lý, cung cấp và sử dụng số liệu về người chưa thành niên vi phạm pháp luật, có Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT/BLĐTBXH-BCA-VKSND-TANDTC hướng dẫn mục ghi trình độ văn hoá như sau:
Trình độ văn hoá gồm: Mù chữ, Tiểu học Trung học cơ sở, Trung học phổ thông.
Như vậy, tuỳ vào từng mục đích kê khai, quý độc giả có thể đối chiếu xem văn bản hướng dẫn chuyên ngành có chú thích hoặc hướng dẫn chi tiết cách ghi trình độ văn hoá hay không.
2.2. Trường hợp không có hướng dẫn cách ghi Trình độ văn hoá
Ngoài các lĩnh vực đặc thù nêu trên - đã có sẵn biểu mẫu hồ sơ riêng và được hướng dẫn cách ghi chi tiết ra thì nhiều trường hợp, mục ghi thông tin trình độ văn hoá hoàn toàn không có hướng dẫn nào. Đơn cử như trong Sơ yếu ý lịch của bộ hồ sơ xin việc dưới đây:
Mục trình độ văn hoá không có hướng dẫn ghi như thế nào. Ghi 12/12 hay ghi Trung học cơ sở, Trung học phổ thông?
Cách thông thường mà hầu hết mọi người thường ghi và được nhà tuyển dụng hoặc các đơn vị tiếp nhận hồ sơ khác chấp nhận là ghi 12/12 (đối với các chương trình học 12 năm) hoặc 10/10 (đối với các chương trình học 10 năm)*. Cho nên trong trường hợp không biết ghi trình độ văn hoá thế nào cho chuẩn, và trong thời gian đợi hướng dẫn cách ghi thống nhất thì quý bạn đọc có thể triển khai viết theo cách thức nêu trên. Tuy đánh đồng trình độ văn hoá và trình độ học vấn nhưng cách hiểu và cách ghi như vậy đang là cách phổ biến hiện nay và vì phổ biến nên các nhà tuyển dụng hoặc đơn vị khác cũng vấn chấp nhận hồ sơ của bạn. Nhưng nếu, trong hồ sơ mẫu mà bạn nhận được có hướng dẫn thì bạn phải ghi đúng theo hướng dẫn đó nhé!
Chú giải:
*: Trong bài viết có xuất hiện khái niệm chương trình học 12 năm và chương trình học 10 năm. Đây là các nội dung liên quan đến chính sách Cải cách giao dục của Việt Nam. Chính sách cải cách giáo dục là các thanh đổi về chương trình giáo dục, nội dung thể hiện trong sách giáo khoa, phương pháp học và cách thưc thi kết thúc chương trình và cách thức thi tuyển sinh đại học. Hệ thống giáo dục 10 năm là kết quả của cuộc cải cách giáo dục năm 1956 và được áp dụng cho miền Bắc Việt Nam. Theo đó, các bậc học của hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm gồm 3 cấp: Cấp 1 (lớp 1 - lớp 4); Cấp 2 (lớp 5 - lớp 7); Cấp 3 (lớp 8 - lớp 10). Đến năm 1992 - 1993, cả hai miền Nam, Bắc đều được áp dụng chung hệ 12 năm - thống nhất cả nước. Nên có người hoàn thành chương trình giáo dục 10 năm thì ghi 10/10, còn học theo chương trình giáo dục 12 năm thì ghi 12/12.
Mọi thông tin còn vướng mắc mời quý bạn đọc vui lòng liên hệ tổng đài tư vấn trực tuyển 24/7 của Công ty Luật TNHH Minh Khuê theo hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp. Trân trọng cảm ơn!