1. Các trường hợp ngừng, giảm mức cung cấp điện 

Dựa trên Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Thông tư 22/2020/TT-BCT, đã được sửa đổi bởi Thông tư 42/2022/TT-BCT, chúng ta có các quy định về việc ngừng hoặc giảm cung cấp điện, cụ thể như sau:

Ngừng hoặc giảm cung cấp điện không khẩn cấp:

Bên cung cấp điện có thể ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện không khẩn cấp trong các trường hợp sau:

  • Ngừng hoặc giảm cung cấp điện theo kế hoạch của bên cung cấp điện để thực hiện việc sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, xây dựng các công trình điện, cũng như để hạn chế tải điện do thiếu nguồn cung cấp, và các mục đích khác theo lịch trình.
  • Ngừng cung cấp điện theo yêu cầu của tổ chức hoặc cá nhân liên quan để đảm bảo an toàn trong việc thi công các công trình.
  • Ngừng hoặc giảm cung cấp điện theo yêu cầu của bên mua điện.

Ngừng hoặc giảm cung cấp điện khẩn cấp:

Bên cung cấp điện có thể ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện khẩn cấp trong các trường hợp sau:

  • Có sự cố xảy ra trên lưới điện cung cấp điện cho bên mua điện; sự cố trong hệ thống điện gây mất điện mà bên cung cấp điện không thể kiểm soát.
  • Có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng về an toàn cho con người, thiết bị và hệ thống điện.
  • Hệ thống điện sạt lở, dẫn đến nguy cơ đe dọa an toàn của hệ thống điện.
  • Có các sự kiện bất khả kháng.

Ngừng cung cấp điện do vi phạm của tổ chức hoặc cá nhân:

Bên cung cấp điện có thể ngừng cung cấp điện trong các trường hợp sau:

  • Bên mua điện vi phạm quy định tại:

+ Các điểm 1, 4, 5, 6, 7 và điểm 8 của Điều 7 Luật Điện lực về các hành vi bị cấm trong hoạt động điện lực và sử dụng điện, bao gồm việc phá hoại trang thiết bị điện, thiết bị đo đếm điện và công trình điện lực, vi phạm quy định về an toàn trong sản xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng điện, cản trở kiểm tra hoạt động điện lực và sử dụng điện, trộm cắp điện, sử dụng điện để bẫy, bắt động vật hoặc làm phương tiện bảo vệ, trừ trường hợp được quy định tại Điều 59 Luật Điện lực.

+ Điểm a và điểm b của Điều 46, điểm b và điểm c của Điều 47 Luật Điện lực, bao gồm không thanh toán đầy đủ tiền điện đúng thời hạn, không tuân theo các thỏa thuận trong hợp đồng mua bán điện, không sử dụng điện một cách an toàn, tiết kiệm và hiệu quả, không tuân theo các quy định về quản lý nhu cầu sử dụng điện, không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu an toàn để đấu nối vào lưới điện truyền tải quốc gia.

  • Bên mua điện không thực hiện thanh toán tiền điện theo quy định tại khoản 6 Điều 23 Luật Điện lực 2004 (đã sửa đổi vào năm 2012). Trong trường hợp bên mua điện không thanh toán tiền điện và đã được bên cung cấp điện thông báo hai lần, thì sau mười lăm ngày, kể từ ngày thông báo lần đầu tiên, bên cung cấp điện có quyền ngừng cung cấp điện. Bên cung cấp điện phải thông báo thời điểm ngừng cung cấp điện cho bên mua điện trước 24 giờ và không chịu trách nhiệm về thiệt hại gây ra do việc ngừng cung cấp điện.
  • Bên mua điện không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng và không duy trì biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 12 Nghị định 137/2013/NĐ-CP.
  • Bên mua điện là khách hàng sử dụng điện có sản lượng điện tiêu thụ bình quân từ 1.000.000 kWh/tháng trở lên, có trách nhiệm thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước khi hợp đồng mua bán điện có hiệu lực.
  • Giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng được thỏa thuận bởi các bên mua và bán điện, nhưng không vượt quá 15 ngày tiền điện, và dựa trên lượng điện tiêu thụ trung bình hàng tháng được đăng ký trong hợp đồng mua bán điện và giá điện năng giờ bình thường được áp dụng.
  • Biện pháp, hình thức, hiệu lực của bảo đảm, cũng như quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc bảo đảm, sẽ được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng mua bán điện, và khuyến khích việc sử dụng biện pháp bảo lãnh thông qua ngân hàng.
  • Bên cung cấp điện có quyền ngừng cung cấp điện cho bên mua điện nếu bên mua điện không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng hoặc không duy trì biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.
  • Quy định về bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán điện không áp dụng đối với các hợp đồng mua bán điện đã có hiệu lực trước ngày 10/12/2013, trừ các hợp đồng mua bán điện mà hai bên đã có thỏa thuận về bảo đảm thực hiện hợp đồng.

 

2. Trình tự ngừng, giảm mức cung cấp điện 

Trong việc áp dụng quy định về trình tự ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện theo Điều 8, Điều 9 và Điều 10 của Thông tư 22/2020/TT-BCT (đã được sửa đổi thông qua Thông tư 42/2022/TT-BCT), quy trình cụ thể như sau:

Trình tự ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện không khẩn cấp:

Khi cần ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện không khẩn cấp, bên cung cấp điện phải thông báo cho bên mua điện trước ít nhất 05 ngày, theo các phương tiện sau:

  • Với khách hàng có sản lượng mua điện trung bình trên 100.000 kWh/tháng và khách hàng sử dụng điện quan trọng: thông báo bằng văn bản hoặc các phương tiện khác thỏa thuận trong hợp đồng mua bán điện.
  • Với các khách hàng khác: thông báo liên tục trong vòng 03 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc các phương tiện khác đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán điện. Lần thông báo đầu tiên phải thực hiện ít nhất 05 ngày trước thời điểm ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện.

Sau khi thông báo, bên cung cấp điện phải thực hiện ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện theo nội dung đã thông báo. Trong trường hợp không thực hiện theo nội dung thông báo, bên cung cấp điện phải thông báo lại trước ít nhất 24 giờ.

Nếu bên mua điện muốn thay đổi thời điểm ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện đã được thông báo, họ cần liên hệ với bên cung cấp điện ít nhất 48 giờ trước thời điểm ban đầu. Bên cung cấp điện cần xem xét và giải quyết đề nghị này, với hai trường hợp:

  • Nếu không thể thay đổi thời điểm, bên cung cấp điện sẽ thực hiện theo kế hoạch ban đầu, nhưng phải thông báo lý do ít nhất 24 giờ trước thời điểm ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện.
  • Nếu đề nghị thay đổi được chấp nhận, bên cung cấp điện cần thông báo trước ít nhất 24 giờ trước thời điểm ban đầu.

Sau khi thực hiện ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện, bên cung cấp điện phải ghi chính xác thời gian, nội dung, và trình tự thực hiện vào sổ nhật ký công tác hoặc nhật ký vận hành.

Khi cung cấp lại điện, bên cung cấp điện phải tuân theo thời gian thông báo. Nếu thời gian trễ so với thông báo từ 01 giờ trở lên, bên cung cấp điện cần thông báo cho khách hàng có sản lượng mua điện trung bình trên 100.000 kWh/tháng và khách hàng sử dụng điện quan trọng theo điện thoại hoặc hình thức khác đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán điện.

Trình tự ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện khẩn cấp:

Khi xảy ra các trường hợp quy định tại Điều 6 của Thông tư 22/2020/TT-BCT, bên cung cấp điện có quyền ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện khẩn cấp. Trong trường hợp này, bên cung cấp điện cần thực hiện các bước sau:

  • Xác định nguyên nhân, phạm vi ảnh hưởng, và dự kiến thời gian cung cấp lại điện.
  • Thông báo cho bên mua điện theo phương tiện thông báo được thỏa thuận trong hợp đồng mua bán điện, và cung cấp các thông tin quy định tại Điều 9 của Thông tư 22/2020/TT-BCT trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện khẩn cấp.
  • Bên cung cấp điện phải ghi đầy đủ thông tin về thời gian, nguyên nhân, và trình tự thực hiện ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện vào sổ nhật ký công tác hoặc nhật ký vận hành.
  • Nếu ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện xảy ra do thiếu công suất và đe dọa an toàn hệ thống điện, bên cung cấp điện cần đảm bảo cắt hoặc giảm công suất phụ tải một cách chính xác dựa trên kế hoạch cung ứng điện và quy định về việc lập và thực hiện kế hoạch cung ứng điện khi hệ thống điện quốc gia cạn kiệt nguồn điện.
  • Bên cung cấp điện phải hợp tác cùng các bên liên quan để khắc phục nguyên nhân dẫn đến ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện khẩn cấp và cung cấp điện lại càng nhanh càng tốt.

Trình tự ngừng cung cấp điện do vi phạm pháp luật bởi tổ chức hoặc cá nhân:

Đối với việc ngừng cung cấp điện do vi phạm pháp luật theo Điều 7 của Thông tư 22/2020/TT-BCT, quy trình như sau:

  • Nếu bên mua điện vi phạm hành vi quy định tại khoản 6 của Điều 7 Luật Điện lực (trộm cắp điện), bên cung cấp điện có quyền ngừng cung cấp điện ngay sau khi lập Biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 134/2013/NĐ-CP.
  • Nếu bên mua điện vi phạm các khoản 1, 4, 5, 7 và 8 của Điều 7 Luật Điện lực, và mức độ vi phạm chưa đủ để ngừng cung cấp điện khẩn cấp, sau khi lập Biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 134/2013/NĐ-CP, bên cung cấp điện cần thông báo trước ít nhất 24 giờ.
  • Trong trường hợp quy định tại điểm b của khoản 1 Điều 7 của Thông tư 22/2020/TT-BCT, khi không có thỏa thuận lùi ngày thanh toán và bên mua điện đã nhận thông báo thanh toán tiền điện 02 lần, bên cung cấp điện có quyền ngừng cung cấp điện sau 15 ngày kể từ lần thông báo đầu tiên.
  • Nếu bên mua điện đã đề nghị thỏa thuận lùi ngày thanh toán và bên cung cấp điện đã đồng ý, và quá thời hạn thỏa thuận mà bên mua điện không thanh toán đầy đủ tiền điện và lãi trễ, bên cung cấp điện có quyền ngừng cung cấp điện.
  • Trong quá trình ngừng cung cấp điện, bên cung cấp điện cần thông báo trước ít nhất 24 giờ và không phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại do ngừng cung cấp điện gây ra.

Việc cung cấp lại điện chỉ được thực hiện trong các trường hợp sau:

  • Bên mua điện đã tiến hành đầy đủ quyết định xử lý vi phạm hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, kết thúc việc vi phạm, khắc phục hậu quả do vi phạm gây ra và thanh toán đầy đủ chi phí ngừng và cung cấp điện lại cho bên cung cấp điện theo quy định tại Điều 10 Thông tư 22/2020/TT-BCT.
  • Bên mua điện đã thanh toán đầy đủ tiền điện và tiền lãi về khoản tiền điện chậm trả (nếu có), hoặc đã thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện các thỏa thuận khác trong hợp đồng mua bán điện và chi phí ngừng và cung cấp điện lại cho bên cung cấp điện theo quy định tại Thông tư 42/2022/TT-BCT.
  • Bên mua điện đã thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng hoặc duy trì biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng và đã thanh toán đầy đủ chi phí ngừng và cung cấp điện lại cho bên cung cấp điện theo quy định tại Thông tư 42/2022/TT-BCT.

Rút gọn lại, quy trình ngừng hoặc giảm mức cung cấp điện được điều chỉnh rất chi tiết theo từng tình huống để đảm bảo rằng các bên đều được xử lý một cách công bằng và an toàn.

Công ty Luật Minh Khuê muốn chia sẻ với quý khách hàng thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang đối mặt với bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có những câu hỏi cần sự giải đáp, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự hỗ trợ và giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sự hợp tác quý báu của quý khách hàng!