1. Quyền tác giả là gì? Vì sao phải đăng ký quyền tác giả?

Quyền tác giả có nghĩa là được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận cho cá nhân, tập thể, tổ chức đối với một tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Các tác phẩm đó phải là sản phẩm của lao động trí óc của tác giả mà không đơn thuần là sự sao chép từ nguồn đã biết. Tác giả theo pháp luật Việt Nam không giới hạn về cá nhân Việt Nam hay cá nhân nước ngoài, miễn là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.

Vậy vì sao phải đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả?

Đăng ký bản quyền tác giả hay còn gọi là bảo hộ bản quyền tác giả. Nghĩa là sẽ đảm bảo cho người sáng tạo ra tác phẩm chống lại các hành vi sử dụng trái phép tác phẩm: như ăn trộm, sao chép, lạm dụng tác phẩm đó. Để tạo ra một tác phẩm có giá trị và sáng tạo, đòi hỏi sự lao động trí óc, trí tuệ, thời gian và tài chính. Việc đăng ký bản quyền tác giả là sự chứng nhận cho sự sáng tạo của con người, bằng việc trao cho tác giả các phần thưởng xứng đáng, động viên tinh thần làm việc cho người sáng tạo.

Ở nước ta hiện nay vấn đề bảo hộ quyền tác giả nói chung, quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí nói chung còn rất yếu kém. Do mọi người chưa biết cách bảo vệ quyền của mình, cũng như lo sợ các thủ tục hành chính rườm rà, các cán bộ của cơ quan nhà nước gây khó dễ. Vi vậy, chúng cần phải biết về pháp luật để có thể thực hiện một cách nhanh chóng về dễ dàng. 

Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định trong một số các trường hợp thì việc sử dụng tác phẩm không được coi là sao chép, lạm dụng, ăn cắp,... tác phẩm

2. Các chủ thể được phép đăng ký quyền tác giả

Chủ thể được phép đăng ký và bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, và chủ sở hữu quyền tác giả quy định pháp luật

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào. Hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác. Ngoài ra còn có các tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Quyền của tác giả phát sinh ngay sau khi tác phẩm được hoàn thành. Quyền tác giả bao gồm:

- Quyền nhân thân: quyền về đặt tên cho tác phẩm, quyền được đứng tên hoặc bút danh trên tác phẩm, quyền được công bố hoặc cho người khác công bố tác phẩm, quyền được bảo hộ toàn vẹn tác phẩm của mình tránh cho người khác xuyên tác, bôi nhọ, sao chép tác phẩm mà không xin phép,...

- Quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm bao gồm: làm tác phẩm phải sinh, biểu diễn trước công chúng, quyền được nhập khẩu, phân phối tác phẩm,...

Những quyền này được bảo vệ toàn vệ đối với tác phẩm, do vậy việc một cá nhân, tổ chức khác sử dụng tác phẩm cũng cần lưu ý về việc xin phép hoặc phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho công sức lao động trí não, tiền bạc của tác giả, đồng tác giả để có thể hoàn thành tác phẩm.

3. Các trường hợp sử dụng tác phẩm mà không phải trả tiền

Căn cứ: khoản 7 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 

Việc sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép, không phải trả tiền thì việc sử dụng này phải không nhằm mục đích thương mại. Vì nếu việc sử dụng này cho thương mại sẽ đem lại lời ích cho người đã sử dụng nó về cả lợi nhuận, tài sản,... mà quyền của tác giả, chủ sở hữu đối với tác phẩm này về tài sản sẽ có thể đem lại lợi nhuận cho tác giả trong trường hợp tác giả sử dụng. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người hiểu sai về 

Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm bao gồm:

- Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép;

- Sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại;

- Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy. Việc sử dụng này có thể bao gồm việc cung cấp trong mạng máy tính nội bộ với điều kiện phải có các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm chỉ người học và người dạy trong buổi học đó có thể tiếp cận tác phẩm này;

- Sử dụng tác phẩm trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước;

- Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu;

- Sử dụng tác phẩm trong hoạt động thư viện không nhằm mục đích thương mại, bao gồm sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ; sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập; sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số;

- Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại;

- Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó, không nhằm mục đích thương mại;

- Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích thương mại;

- Sao chép bằng cách đăng tải lại trên báo, ấn phẩm định kỳ, phát sóng hoặc các hình thức truyền thông khác tới công chúng bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác được trình bày trước công chúng trong phạm vi phù hợp với mục đích thông tin thời sự, trừ trường hợp tác giả tuyên bố giữ bản quyền;

- Chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phát sóng sự kiện nhằm mục đích đưa tin thời sự, trong đó có sử dụng tác phẩm được nghe thấy, nhìn thấy trong sự kiện đó;

- Người khuyết tật nhìn, người khuyết tật không có khả năng đọc chữ in và người khuyết tật khác không có khả năng tiếp cận tác phẩm để đọc theo cách thông thường (sau đây gọi là người khuyết tật), người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật, tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ sử dụng tác phẩm theo quy định tại Điều 25a của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022.

Tuy nhiên, việc sử dụng tác phẩm này không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như không gây phương hại đến danh dự, nhân phẩm của tác giả, chủ sở hữu. Việc sao chép theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 không áp dụng đối với các tác phẩm sau đây kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật, chương trình máy tính; việc làm tuyển tập, hợp tuyển các tác phẩm.

Trên đây Luật Minh Khuê đã giải đáp về các trường hợp sử dụng tác phẩm mà không phải trả tiền. Nếu còn những vướng mắc nào cần tư vấn hay liên hệ với chúng tôi qua số 1900.6162 các tổng đài viên luôn luôn sẵn sàng hoặc gửi thư đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trở, giải đáp các vướng mắc.