Tu chính án đạo luật công ty ngân hàng mẹ

Tu chính án đạo luật công ty ngân hàng mẹ năm 1956 cấm sự mua lại (thâu tóm) ngân hàng liên tiểu bang, trừ khi được cấp phép rõ ràng theo luật tiểu bang. Thỏa thuận hỗ tương của những cơ quan lập pháp tiểu bang vào giữa thập niên 1980 cho phép những vụ sáp nhập xuyên biên giới trong các bang lân cận, và Đạo luật Ngân hàng Riegle-Neal năm 1994 xóa bỏ tất cả những rào cản luật pháp đối với sáp nhập ngân hàng liên tiểu bang, bao gồm Tu chính án Douglas.

Trong Từ điển tiếng Việt bản mới nhất (Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2021) chỉ có từ tu chính (nghĩa Hán Việt, tu: sửa, chính: đúng) có nghĩa là "sửa sang lại cho đúng". Đây là một từ cũ, chỉ dùng trong phạm vi hẹp. Tu chính án là một kết hợp 3 thành tố (án: văn kiện, ở đây dùng chỉ "hiến pháp"), có nghĩa là "sửa đổi lại hiến pháp".

Hiến pháp (hiến: pháp luật, pháp: luật, phép tắc) là "văn bản pháp luật cơ bản của một nước, quy định những vấn đề chung nhất về chế độ chính trị, quyền và nghĩa vụ công dân, hệ thống tổ chức nhà nước, v.v. thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn dân." (Từ điển tiếng Việt, đã dẫn). Như vậy, hiến pháp là đạo luật cơ bản, chung nhất của mỗi quốc gia. Hiến pháp phải được cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của nhà nước ban hành và sửa đổi, sau khi xin ý kiến của quốc dân (ở nước ta, Hiến pháp do Quốc hội thông qua). Vì vậy, hiến pháp nói chung có tính bền vững và được bảo lưu trong một thời gian dài, tuỳ theo thể chế chính trị của quốc gia đó. Tất nhiên, trong một thể chế chính trị, người ta vẫn có thể điều chỉnh nội dung hiến pháp (thường chỉ một số điều khoản) qua từng thời kì, phù hợp với tôn chỉ, đường lối, chủ trương của toàn dân trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Chẳng hạn, Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là Hiến pháp của nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa (thành lập năm 1945) đã qua 5 lần sửa đổi. Đó là Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời năm 1946. Sau đó là Hiến pháp sửa đổi năm 1959. Khi nước Việt Nam thống nhất (đổi tên là nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) thì bản Hiến pháp mới có sửa đổi khá nhiều (trên cơ sở kế thừa hiến pháp trước đó) và tiếp tục có sự sửa đổi vào các năm 1980, 1992, 2013.

Do tầm hệ trọng và tính vững chắc của hiến pháp mà người ta thường phân biệt hiến pháp cứng và hiến pháp mềm. Hiến pháp mềm là hiến pháp có thể điều chỉnh cho phù hợp, căn cứ vào tình hình thực tế. Ở nhiều nước như Mỹ, Đức, Pháp, Đan Mạch... người ta vẫn có chế độ sửa đổi một số điều của hiến pháp, gọi là tu chính án (amendment). Riêng Mỹ, hiện tại có tới 27 tu chính án. Trong số đó, tu chính án có hiệu lực sớm nhất (năm 1791, về việc Bảo vệ quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do kiến nghị) và Tu chính án gần đây nhất vào năm 1992 (Về việc Thay đổi lương bổng của Quốc hội). Tu chính án 25 mà hiện nay báo chí đang nhắc tới nhiều, chính là tu chính án được thông qua năm 1967 với nội dung "Phó Tổng thống được kế nhiệm khi Tổng thống không thể tiếp tục nhiệm vụ của mình (vì lí do sức khoẻ hay không còn đủ năng lực lãnh đạo)".

Sáng quyền tu chính hiến pháp

Hiến pháp Mỹ dự trù hai chủ thể có sáng quyền tu chính Hiến pháp là Quốc hội liên bang và Hội nghị hiến pháp.

Quốc hội liên bang được đề xuất sửa đổi Hiến pháp. Khi đề xuất sửa đổi Hiến pháp, cần phải có sự đồng ý của 2/3 tổng số thành viên có mặt theo túc số hành động của hai viện Quốc hội, chứ không phải 2/3 tất cả các thành viên của Quốc hội. Việc bỏ phiếu với tỉ lệ 2/3 chỉ áp dụng đối với việc thông qua văn bản cuối cùng về đề nghị sửa đổi. Như vậy, bản đề nghị sửa đổi có thể được sửa đổi bằng một cuộc bỏ phiếu đa số, nhưng tỉ lệ 2/3 là cần thiết khi một viện bỏ phiếu lần cuối cùng đồng ý với bản đề nghị sửa đổi của viện kia

Khi Quốc hội trình đề nghị sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội không phải đang thực thi quyền lập pháp thông thường. Vì vậy, đề nghị sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội không cần sự chấp nhận của Tổng thống, và cũng không bị ảnh hưởng bởi quyền phủ quyết của Tổng thống. Tòa án tối cao liên bang đã đưa ra phán quyết về vấn đề này trong vụ Hollingsworth v. Virgina. Tòa án đã giải thích: đề nghị sửa đổi Hiến pháp không cần phải đưa cho Tổng thống. Hiến pháp chỉ yêu cầu Tổng thống ký vào các đạo luật thường. Hành động của Quốc hội trong việc đề nghị sửa đổi Hiến pháp là một hành động có tính hiến pháp chứ không phải là ban hành một đạo luật thường

Hiến pháp Mỹ không đặt ra những giới hạn của quyền đề nghị sửa đổi hiến pháp của Quốc hội, trừ một giới hạn là các tiểu bang không bị tước quyền bình đẳng trong Thượng viện khi không đồng ý với nội dung sửa đổi hiến pháp. Tòa án tối cao liên bang đã cho rằng điều V của Hiến pháp có khuynh hướng trao cho Quốc hội một quyền lực rộng lớn trong việc đề nghị sửa đổi hiến pháp. Khi đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp, Quốc hội không cần phải tuyên bố rõ ràng việc sửa đổi hiến pháp là cần thiết vì một nghị quyết chung giữa hai viện đủ để cho thấy rằng sửa đổi hiến pháp là cần thiết

Hiến pháp Mỹ cũng quy định rằng, Quốc hội, khi có yêu cầu của cơ quan lập pháp của 2/3 các bang, “sẽ” triệu tập một Hội nghị để sửa đổi hiến pháp. Tòa án tối cao giải thích rằng “sẽ” có nghĩa là “phải”. Nhiệm vụ của Quốc hội là phải triệu tập một Hội nghị như vậy. Nhưng Quốc hội có quyền quyết định trong điều kiện như thế nào thì Quốc hội phải thực hiện nghĩa vụ đó, việc tổ chức Hội nghị có hợp lý hay không, khi nào số lượng các bang đủ để yêu cầu triệu tập Hội nghị

Mặc dù hiến pháp tạo ra hai con đường hình thành sáng quyền tu chính hiến pháp là Quốc hội và Đại hội hiến pháp nhưng trên thực tế, tất cả các tu chính án hiến pháp Mỹ đều do Quốc hội đề xuất. Chưa có một sửa đổi hiến pháp nào được thông qua trên cơ sở sáng quyền tu chính của Đại hội hiến pháp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Hiến pháp đã dự trù ra một con đường tu chính thứ hai vô nghĩa. Theo giải thích của Akhil Reed Amar, giáo sư luật hiến pháp danh tiếng của Trường Luật Yale, việc Hiến pháp dự trù hình thức Đại hội hiến pháp đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp có ý nghĩa ngăn cản không để cho Quốc hội có quyền tự quyết đối với những cải cách hiến pháp cần thiết để giới hạn quyền lực của Quốc hội. Một Đại hội hiến pháp được triệu tập trên cơ sở đề nghị của 2/3 cơ quan lập pháp của các bang có quyền đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp có nghĩa việc sửa đổi hiến pháp không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Quốc hội liên bang

các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ

Đây là danh sách toàn bộ các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ đã được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, có cả các tu chính án được và chưa được phê chuẩn (phải được hai phần ba các nghị viện tiểu bang phê chuẩn sau khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua và giới thiệu đến các tiểu bang). Tiến trình tu chính Hiến pháp được hướng dẫn trong Điều khoản V Hiến pháp Hoa Kỳ. Có nhiều đề nghị tu chính Hiến pháp Hoa Kỳ khác nữa được trình lên Quốc hội Hoa Kỳ nhưng chưa được trình lên các tiểu bang.

Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

 


Hiến pháp Hoa Kỳ
 
Văn bản gốc Hiến pháp Hoa Kỳ
Lời mở đầu

Các điều khoản Hiến pháp
I ∙ II ∙ III ∙ IV ∙ V ∙ VI ∙ VII

Các tu chính án Hiến pháp
Đạo luật Nhân quyền
I ∙ II ∙ III ∙ IV ∙ V
VI ∙ VII ∙ VIII ∙ IX ∙ X

Các tu chính án sau
XI ∙ XII ∙ XIII ∙ XIV ∙ XV
XVI ∙ XVII ∙ XVIII ∙ XIX ∙ XX
XXI ∙ XXII ∙ XXIII ∙ XXIV ∙ XXV
XXVI ∙ X

 
 

Các tu chính án

 
# Các tu chính án Ngày đề nghị Ngày hiệu lực
1 Bảo vệ quyền Tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do họp hội, và kiến nghị 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
2 Bảo vệ Quyền mang vũ khí của dân thường và binh lính 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
3 Binh sĩ không được đóng quân tại khu vực tư gia trong thời bình. Trong thời chiến, Quốc hội có thể thông qua luật cho phép binh sĩ làm vậy. 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
4 Cấm khám xét và tịch thu không lý do; đưa ra các yêu cầu về lệnh khám xét căn cứ vào lý do chính đáng 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
5 Truy tố; Tiến trình xét xử; Tự nhận tội; Không truy tố cùng một tội hai lần (double jeopardy), và những luật lệ về trưng thu (eminent domain). 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
6 Quyền được xét xử công công khai, công bằng và nhanh chóng, cho biết lý do truy tố, đối chấp người tố cáo, trác đòi hầu tòa, quyền được tư vấn 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
7 Quyền được bồi thẩm đoàn xét xử trong các phiên tòa dân sự 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
8 Không phạt tiền và định tiền thế thân vượt mức hay xử phạt bất thường và tàn bạo 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
9 Các quyền con người cơ bản 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
10 Giới hạn quyền lực của chính phủ liên bang 25 tháng 9 năm 1789 15 tháng 12 năm 1791
11 Miễn trách nhiệm các tiểu bang khỏi sự tố tụng của các công dân ngoài tiểu bang và ngoại quốc không sống trong ranh giới tiểu bang. Đặt nền tảng cho quyền miễn tố chủ quyền. 4 tháng 3 năm 1794 7 tháng 2 năm 1795
12 Sửa đổi tiến trình bầu cử tổng thống 9 tháng 12 năm 1803 15 tháng 6 năm 1804
13 Bãi bỏ chế độ nô lệ, trừ khi đó là hình phạt đối với tội phạm. 31 tháng 1, 1865 6 tháng 12 năm 1865
14 Quy trình pháp luật tiểu bang và quyền công dân, áp dụng Đạo luật Nhân quyền Hoa Kỳ vào các tiểu bang, sửa đổi phân chia đại diện, không cho phép những ai nổi loạn chống Hoa Kỳ giữ chức vụ công quyền 13 tháng 6 năm 1866 9 tháng 7 năm 1868
15 Quyền đầu phiếu không còn bị giới hạn bởi chủng tộc 26 tháng 2 năm 1869 3 tháng 2 năm 1870
16 Cho phép thu thuế lợi tức liên bang 12 tháng 7 năm 1909 3 tháng 2 năm 1913
17 Bầu cử trực tiếp Thượng viện Hoa Kỳ 13 tháng 5 năm 1912 8 tháng 4 năm 1913
18 Cấm chất rượu cồn (bị bãi bỏ bằng Tu chính án 21) 18 tháng 12 năm 1917 16 tháng 1 năm 1919
19 Quyền đầu phiếu của phụ nữ, mọi giới tính đều có quyền bỏ phiếu 4 tháng 6 năm 1919 18 tháng 8 năm 1920
20 Ấn định ngày bắt đầu nhiệm kỳ cho Quốc hội (3 tháng 1) và tổng thống (20 tháng 1) (tu chính án này cũng còn được gọi là "tu chính án lame duck".) 2 tháng 3 năm 1932 23 tháng 1 năm 1933
21 Bãi bỏ Tu chính án 18; tiểu bang và địa phương không còn bị bắt buộc cấm rượu cồn. 20 tháng 2 năm 1933 5 tháng 12 năm 1933
22 Giới hạn mỗi người chỉ được làm tổng thống trong tối đa là hai nhiệm kỳ 24 tháng 3 năm 1947 27 tháng 2 năm 1951
23 Đại diện của Washington, D.C. trong Đại cử tri đoàn 16 tháng 6 năm 1960 29 tháng 3 năm 1961
24 Cấm giới hạn quyền đầu phiếu vì không trả thuế khoán 14 tháng 9 năm 1962 23 tháng 1 năm 1964
25 Phó tổng thống được kế nhiệm tổng thống khi tổng thống không thể tiếp tục nhiệm vụ của mình 6 tháng 7 năm 1965 10 tháng 2 năm 1967
26 Tuổi đầu phiếu toàn quốc được thiết lập là 18 tuổi 23 tháng 3 năm 1971 1 tháng 7 năm 1971
27 Thay đổi lương bổng quốc hội 25 tháng 9 năm 1789 7 tháng 5 năm 1992

Các tu chính án được đề nghị nhưng chưa được thông qua

 

Trước khi một tu chính án có hiệu lực, nó phải được hai phần ba số phiếu bầu của cả hạ viện và thượng viện chấp thuận trước khi giới thiệu đến các tiểu bang. Sau đó nó phải được ba phần tư số tiểu bang của Hoa Kỳ thông qua. Sáu tu chính án, do Quốc hội Hoa Kỳ đề nghị, đã bị thất bại vì không được đủ số phiếu cần thiết hai phần ba số nghị viện tiểu bang chấp thuận. Bốn trong các tu chính án này vẫn còn đang chờ đợi các nghị viện tiểu bang chấp thuận - hai tu chính án khác đã hết hạn chờ đợi.

Tu chính án Ngày đề nghị Tình trạng Đề tài
Tu chính phân chia đại diện tại Quốc hội 25 tháng 9 năm 1789 Vẫn còn chờ các nghị viện tiểu bang quyết định Phân chia đại diện tại Hạ viện Hoa Kỳ
Tu chính chức danh quý phái 1 tháng 5 năm 1810 Vẫn còn chờ các nghị viện tiểu bang Nghiêm cấm chức danh quý phái
Tu chính án Corwin 2 tháng 3 năm 1861 Vẫn còn chờ các nghị viện tiểu bang Duy trì chế độ nô lệ
Tu chính án về trẻ em lao động 2 tháng 6 năm 1924 Vẫn còn chờ các nghị viện tiểu bang Quốc hội có quyền ấn định luật lệ về lao động trẻ em
Tu chính án quyền bình đẳng 22 tháng 3 năm 1972 Hết hạn năm 1979 hay năm 1982 (một số học giả không đồng ý), mặc dù vẫn có thể được thông qua vì hạn kỳ đã từng được gia hạn và ngày hết hạn không có nói trong phần nội dung của tu chính án. Cấm bất bình đẳng giữa nam và nữ
Tu chính án quyền đầu phiếu của Đặc khu Columbia 22 tháng 8 năm 1978 Hết hạn năm 1986 Quyền đầu phiếu của Washington, D.C.