1. Giới thiệu chung về Fichte và tư tưởng chính trị pháp lý của ông:

G.G.Fichte (1762-1814) là một nhà triết học Đức nổi tiếng, Ông sinh năm 1762 trong một gia đình nông dân nghèo ở miền đông Phổ, sau đó theo học ngành triết học ở các trường đại học tổng hợp Iena và Laixích. Năm 1791, ông đến Kenixbec gặp Kant I. Fichte và từ đây ông chịu ảnh hưởng lớn của nhà sáng lập triết học cổ điển Đức. Năm 1809, ông là chủ nhiệm khoa triết học ở trường đại học tổng hợp Beclin, và là hiệu trưởng đầu tiên của trường đại học tổng hợp mới thành lập này. Phíchtơ mất năm 1814, để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như Các nguyên lý của lý luận khoa học phổ biến (1794 ). Về quan niệm chiến tranh chân chính (1813) v.v… người kế tục sự nghiệp của Kant I. Fichte là nhà triết học duy tâm chủ quan, theo ông thế giới vật chất tồn tại chỉ như môi trường thể hiện tự do của ý chí con ngứời, không có trong thực tại khách quan ngoài ý thức và hoạt động cửa con người.

2. Tư tưởng chính trị pháp lý của Hegel:

2.1 Nhà triết gia Hegel

Hegel là triết gia đầu tiên đã nhìn ra chiều kích của sự "trở thành" trong toàn bộ tầm mức của nó. Lịch sử nhân loại, sự tiếp nối các thời đại đối với ông không gì khác hơn là sự khai triển của Tinh thần thế giới. Trong đó, tất cả diễn tiến theo một động cơ nội tại mãnh liệt: Phép biện chứng.

Và theo ông, pháp luật là khái niệm tiên nghiệm. Nộ được, rút ra từ những “hình thức tự duy thuần túy”, Các yếu tô' bên ngoài không liên quan đến bản chất của pháp luật. Nó cần thiết là do tự ý thức, bỏi lẽ sự tôn tại của phấp luật tạo Điều kiện xác định bản chất cơ bản của nhân cách. Song pháp luật không phẵi dựa trên ý chí cá nhân. Nó được xác lập trên cơ sở thừa dưới ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau và đối lập nhau. Nhưng hoàn cảnh đó tạo nên tính chất mâu thuẫn trong học thuyết cụa.Hẹgel vê Nhà nước và pháp luật. Chô'ng lại chế độ phong kiến, Hegel đưa ra các khẩu hiệu tự do và nhân văn, song .ông lại kết hợp một cách kỳ lạ chúng với các quan điểm bảo thủ và thỏa hiệp với chế độ quân chủ phong kiến.

2.2 Các giai đoạn phát triển của xã hội theo Hegel

Qua ba giai đoạn: giai đoạn lô gich, hay là sự tôn tại của thể tuyệt đô'i trước khi tạo ra thiên nhiên, giai đoạh hai là giai đoạn tự nhiên hày thời kỳ thể tuyệt đối thâm nhập vào thế giới .vật chất, thời kỳ thứ ba là thời kỳ lý trí hay thời kỳ thể tuyệt đối trở lại với chính mình (tự tư duy) trong trí tuệ con người.

Đối với chúng ta, cái quan trọng là thời kỳ thứ ba, thời kỳ kết thúc sự chuyển động của thể tuyệt đốì, khi nó liên quan đến con người và xã hội con người. Theo Hegel thời kỳ này bao gồm ba giai đoạn thay đổi tuần tự: trí tuệ chủ thể (ý thức cá nhân con người), trí tuệ khách quan (các thiết chế do xã hội con người tạo lập) và trí tuệ tuyệt đối (thể tuyệt đối tự hiểu mình trong các hình thức nghệ thuật, tôn giáo và triết học). Từ hệ thông mô tả biểu đồ này của triết học Hegel, có thé’ hiểu rõ là vê sau chỉ có giai đoạn hai là được xem xét tiếp theo ở đây. Chính ở điềm này, chúng ta xem xét các khái niệm chính trị pháp quyền, Điều được Hegel trình bày trong “triết học pháp quyền”.

Là tinh thần khách quan, ý niêm tuyệt đối thực hiện sự sáng tạo thành hiện thực của tự do, chân lý, tự do thực chất trong thực tiễn. Quá trình thực hiện này bắt đầu từ pháp luật trừu tượng. Sau đó nó bao trùm lĩnh vực đạo đức và kết thúc ở lĩnh vực đạo lý. Sự ngự trị của tự do ở thế giới bên ngoài được coi chính là hệ thống pháp luật. Hệ thống này là sự tồn tại của ý chí tự do được hiểu là ý thức của cá thể vê sự tất yếu và phạm vi của hành vi con người, khuynh hướng của cá thể tiến tới lý trí. Quan điểm của Hégèl vê pháp luật là việc thể hiện ý chí tự do (hạn chế) khác nhau với ý kiến của Kant và Fichte coi pháp luật là sự hạn chế có tính cựỡng chế đối với sự chuyên quyền cá nhân, 'bỏi sự chuyên quyền của cá nhân khác trên cơ sở tự đo. Song Hegel hoàn toàn tán thành tới các bậc tiên bối của mình là: “Nên tảng của pháp luật nói chung là cái tinh thần...”

>> Xem thêm:  Quyền lực chính trị là gì ? Quy định về quyền lực chính trị

2.3 Tư tưởng pháp quyền của Hegel:

Theo Hegel tư tưởng pháp quyền trong quá trình phát triển trải qua một loạt cấp độ ở mởi cấp độ có hình thức riêng, và khởi điểm của sự phát triển pháp quỳêh là ý chí tự do. “Ý chí tự do trước hết là trực tiếp và bỏi vậy nó cổ tính cách ;cuà căi đơn nhất - tức cá nhân; sự tồn tại mà ca nhãn tạo ra tự do của minh là sở hđu. Pháp luật tự thân mang tính hình thức và trừu tượng”, ở đây thể hiện bản chất học thuyết Hegel vê pháp luật trừu tượng. Trước hết, nội dung cơ bản của pháp luật trừu tượng là' tổng thể các mối quan hệ giữa các cá thể như các chủ sở hữu. “Pháp luật là mối quan hệ của con người, bỏi lẽ họ là các nhân cách trừu tượng”. Hegel tuyên bố: "Hãy là nhân cách và tồn trọng người khác như các nhâh cách”. Đễ đàng thấy được ý nghĩa phản phohg của lời kêu gọi này, khi khẳng định nhân cách của con người bị chà đạp trong chế độ chuyên chế nông nô. Hai là, cốt lõi của pháp luật trừu tượng được Hegel coi lắ sở hữu. Và sở hữu ở đây chỉ có giá trị khi nó là tư hữu. Từ đó có sự ngự trị hoàn toàn và không hạn chế của nhân cách đối với đồ vật. .

Sở hữu được ông coi chí lầ quan hệ củầ cồn người‘đối với đồ vật, nảy sinh từ sự càn thiết của mởi cá nhãn đối với việc xác định tự do của mình với thế giới bên ngoài. Nhờ có sở hữu con người trở thành nhân cách. “Chỉ có trong sở hữu ca nhân mới trở thành lý tính”. Theo Hegel, tự do tư hữu là thanh quả vĩ đại nhất của thời đại mới. Tự do này kéo theo đòi hỏi tự do hợp đồng và các mối quan hệ hợp đồng giữa các chủ sở hữu.

Bảo vệ tính hợp lý của tư hữu tư sản; Hegel phê phán dự án “cộng sản chủ nghĩa của Platôn. Ông cũng không đồng ý với Rutxô về việc bãi bỏ bất cổng tài sản. Đồng thời ông đấu tranh chống các quyền phong kiến. Hegel tin tưởng rằng chúng không phù hợp với khái niệm đúng về sở hữu, mà theo đó chủ ruộng đất phải là của những người sở hđu và canh tác chúng. Hegẹl cụng không chấp nhận chế độ nông nô và nô lệ, vì lẽ cùng chà đạp nhân phẩm con người. “Trong tự nhiên sự vật, có quyền tuyệt đối của kẻ nô lệ giành cho mình tự do”. Phán luận như vậy không hê làm Hegel ủng hộ tư tưởng bình đẳng giữa tất cả mọi người. Ông bác bỏ tư tưởng này vì cho lăng nó trái ngược tự nhiên.

Trong triết học pháp quyên và triết học lịch sử, Hegel thể hiện quan điểm cơ bản của mình vê cậc yấn đề phát triển xã hội, trong đó ông đặc biệt .quan tâm nghiên cứu bản chất và nguồn gốc củạ Nhà nước. Theo ông, gia đình và xã hội công dân phải chịu sự chi đạo của Nhà nước. “Chỉ có Nhà nước là sự thực hiện tự do”. Nhờ nó mà gia đình xã hội công dân được bảo tồn, đời. sông xã hội, cũng như những mậu thuẫn đẳng cấp. đựợc Điều hòa. Ông viết: “Nhà nước là sự ngoại du của Chúa trời trong xã hội loài người” là sự thể hiên của tinh thần tuyệt đối.

Khác với nhiêu nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVII đòi lật đổ chế độ phong kiến thốỉ nát, xây dựng một chế độ xã hội mới đem lại tự do và bình đẳng cho mọi người, Hegel cho rằng “luận diem khẳng định mọi người vê bản tính vốn là bình đẳng, là không đúng, cần phải nóị ngược, lại làng con người vê bản tính vốn là “bất bình đẳhg Từ đây ông coi mọi sự bất công, tệ nạn xã hội như Những hiện tượng tất yếu củả sự piiảt triển xã hội xuất phát từ bản tính con người. Vì thế, trong xã hội thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, đẳng cấp xã hội khác nhau, cũng như giữa mởi cả nhân và xã hội. Và chính sự không ngừng này sinh và giải quyết những mâu thuẫn giữa các quan hệ xã hội đở lă một trong những động lực cơ bản thúc đẩy xã hội phát triển.

2.4 Thời điểm nhà nước xuất hiện theo Hegel

Và chính từ những mâu thuẫn xâ hội trên đây mà Nhà nước xuất hiện. Khác với nhiều nhà tư tưởng từ trước tới giờ lý giải nguồn gốc Nhà nừớc từ khế ìỉớc xã hội. Hegel khẳng định: “Nhà nước hiện đại và Chính phủ hiện đại chỉ xuất hiện khi tồn tại sự khác nhau giữa các đẳng cấp, khi sự chênh lệch giàu và nghèo trở nên quá lớn, và khi mà xuất hiên những mối quan hệ trong đó đồng đảo quần chúng không thỏa mãn nhưng nhu cầu của mình như họ đã từng quen’. Nhà nước ra đời nhằm dung hồa các mâu thụẫn giữa người giàu và; người nghèo, giữa các đẳng cấp xã hội khác nhau nhằm định hướng.sự phát triển xã hội, mà là tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực vê mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền„ chính trị, văn học V.V.. của xã hội, nhờ đố mởi quốc gia mới có thể phát triển bình thường. Vì thế, Nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử. Coi bản chất của Nhà nước vốn là mâu thuẫn, Hegel khẳng định, đây cũng là nguyên nhãn gây ra các cuộc chiến tranh, xung đột giữa các quốc gia hoặc trong nội bộ mởi quốc gia. Ở đây, theo quan niệm biện chửng của Hegel, mâu thuẫn được hiểu . Là động lực phát triển của mọi sự vật đi ngược lại với lập trựờng giai cấp của ông. Một mặt, Hegẹl cho rằng nhờ có các cuộc chiến tranh “mà thể trạng đạo đức của các dân tộc mới được bậo toàn...., cũng như những cơn gió không cho phép mặt hồ được phẳng lặng như lúc yên gió. Chiến tranh bảo vệ các dân tộc tránh khỏi sự thối nát”. Nhưng mặt khác, nhằm bảo vệ sự thống trị của Nhà nước quý tộc Phổ, Hegel lại chủ trương dung hòa các mâu thuẫn đối kháng của xã hội Đức thời đó, nhằm xoa dịu cuộc đấu tranh của quần chúng bị áp bức đối với những giai cấp thông trị.

Khăng định “lịch sử toàn thế giới là sự tiến bộ trong ý thức tự do, sự tiến bộ mà chúng ta càn phải nhận thức trong tính tất yếu của nó. Hegel coi sự phát triển về tự do là chuyến mục cơ bản đánh giá sự ưu việt của thời đại này với thời đại khác, của dân tộc.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc.

>> Xem thêm:  Học thuyết chính trị của Montesquieu (Môngtexkiơ) ở Pháp thời kỳ cách mạng vào cuối thế kỷ XVIII

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư tưởng chính trị pháp lý của Jean Jacques Rousseou (Rútxô) và của Voltaire (Vonte) ở Pháp vào cuối thế kỷ XVIII

Câu hỏi thường gặp về tư tưởng G.G Fichte và Hegel ?

Câu hỏi: Nhà triết học hay nhà triết gia là gì?

Trả lời:

Nhà triết học, hay triết gia, là người nghiên cứu về triết học, có đóng góp cho sự phát triển của triết học. Theo lịch sử triết học và theo phân chia vùng, người ta phân chia thành các nhà triết học phương Đông và triết học phương Tây.

Câu hỏi: Nhà nước được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Nhà nước là tổ chức quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật nhằm thiết lập trật tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình.

Câu hỏi: Pháp luật được hiểu là gì?

Trả lời:

Pháp luật được định nghĩa là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước được ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của người dân.