- 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận
- 2. Trách nhiệm của các cơ quan đảng, cấp ủy và tổ chức đảng đối với công tác dân vận
- 3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với công tác dân vận
- 4. Trách nhiệm của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác dân vận
- 5. Quy định về phương thức thực hiện công tác dân vận
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận
Công tác Dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng đất nước ta, cả trong thời kỳ chưa có chính quyền lẫn thời kỳ Đảng cầm quyền; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền và toàn xã hội, thắt chặt mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân.
Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại của cách mạng; tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác Dân vận - công tác vận động quần chúng - là một hệ thống những quan điểm, phương thức Dân vận được thấm nhuần trong cả cuộc đời và trong các tác phẩm của Người.
Ngày 15/10/1949 Bác Hồ kính yêu viết bài “Dân vận” đăng trên báo Sự thật. Ngày 15/10 hàng năm trở thành ngày Dân vận của cả nước. Chỉ trong một bài báo ngắn gọn, Người đã nêu rất đầy đủ ý nghĩa, nội dung và tầm quan trọng của công tác Dân vận trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Bác Hồ viết: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân; sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân; chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên; nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân; ...”.
Khắc sâu lời Bác Hồ dạy: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, do làm tốt công tác Dân vận mà Đảng ta luôn tập hợp tuyên truyền, giáo dục, động viên, phát huy mọi tầng lớp nhân dân thành lực lượng cách mạng hùng hậu tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc, làm nên những thành quả vĩ đại của cách mạng. Xuyên suốt quá trình phát triển của cách mạng, quan điểm của Đảng về cách mạng là sự nghiệp của quần chúng được quán triệt và vận dụng sáng tạo qua mỗi thời kỳ. Nhờ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng hợp quy luật, hợp lòng dân tạo thành sức mạnh đại đoàn kết, đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách giành những thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến cứu nước cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
Một trong những bài học chủ yếu thời kì đổi mới đất nước là: “Đổi mới phải dựa vào dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo”. Lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, Đảng ta không có mục đích nào khác là phục vụ nhân dân, để nhân dân trở thành chủ nhân thực sự của đất nước, làm chủ bản thân và xã hội, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác Dân vận có vị trí rất to lớn và quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của nước nhà; thực hiện công tác dân vận là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đồng thời công tác dân vận là một trong những công tác cơ bản, quan trọng, gắn liền với sự trưởng thành về sự lãnh đạo nhân dân làm cách mạng của Đảng. Đảng ta đã hết sức coi trọng công tác Dân vận. Điều đó đã được thể hiện một cách nhất quán trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng. Thông qua công tác Dân vận, Đảng đã phát huy cao độ sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, tạo nên động lực to lớn đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng phát triển.
Các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đều thể hiện rõ rệt quan điểm và tư tưởng đó. Đặc biệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (mà chúng ta thường gọi là NQ8B) về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” có ý nghĩa quan trọng đẩy mạnh sự nghiệp vận động quần chúng nhân dân trong thời kì đổi mới.
Công tác Dân vận không chỉ tiến hành trong ngày Dân vận, mà phải làm thường xuyên hằng ngày. Nhưng mỗi năm khi đến ngày 15/10, tất cả các cấp Ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể cần kiểm điểm lại kết quả một năm thực hiện công tác Dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm đưa công tác quan trọng này thành nền nếp, thành ý thức thường xuyên của mọi cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, coi đây là một tiêu chuẩn để đánh giá về phẩm chất, đạo đức cách mạng và năng lực của cán bộ, đảng viên, hội viên; góp phần để nhân dân thật sự tin yêu Đảng và mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.
Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chủ tịch ngày 30/7/2021 Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 23-qđ/TW về Quy chế công tác dân vận của Hệ thống chính trị. Trong đó có một số điểm mới so với Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25/02/2010 của Bộ Chính trị
Quyết định số 23-QĐ/TW gồm 04 Chương, 28 Điều, so với Quyết định số 290-QĐ/TW giảm 01 Chương, 06 Điều.
Trong phần quy định chung, Quyết định số 23-QĐ/TW nêu cụ thể và toàn diện hơn Quyết định số 290-QĐ/TW ở một số điểm sau: Nêu rõ công tác Dân vận là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị. Quy định rõ: Đảng lãnh đạo trực tiếp công tác dân vận. Bổ sung nội dung quy định các cơ quan, tổ chức phân công lãnh đạo, cán bộ trực tiếp phụ trách công tác dân vận.
2. Trách nhiệm của các cơ quan đảng, cấp ủy và tổ chức đảng đối với công tác dân vận
Nêu rõ Bộ Chính trị, Ban Bí thư chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương về lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân vận trong hệ thống chính trị. Bổ sung trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc quyết định giới thiệu cán bộ, đảng viên làm lãnh đạo chủ chốt của các Hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Quy định rõ 6 tháng, 1 năm và trong trường hợp cần thiết Bộ Chính trị, Ban Bí thư làm việc với Ban Dân vận Trung ương, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, tổ chức liên quan ở Trung ương về tình hình nhân dân và công tác dân vận.
Bổ sung thêm một số trách nhiệm đối với Ban Dân vận Trung ương: Giám sát đối với các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định, Quy định, Quy chế, Kết luận của Đảng về công tác dân vận. Hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức về công tác dân vận. Tham gia ý kiến với Ban tổ chức Trung ương về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy làm công tác dân vận. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị theo dõi, tổng hợp tình hình nhân dân (Tình hình dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp trong xã hội, các vấn đề bức xúc trong nhân dân).
Bổ sung nhiệm vụ của Ban Kinh tế Trung ương (Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về kinh tế - xã hội liên quan mật thiết đến đời sống nhân dân) và Ban Nội chính Trung ương (Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết và văn bản của Đảng về công tác tiếp công dân, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực).
Quy định rõ hơn nhiệm vụ của các Ban: Ban Tổ chức Trung ương: Chủ trì, phối hợp với Ban Dân vận Trung ương hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, công tác cán bộ của hệ thống dân vận, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và công tác cán bộ đối với Hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Không trực tiếp quy định về biên chế, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm cán bộ dân vận. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương: Phối hợp với Ban Dân vận Trung ương trong việc kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác Dân vận. Ban Đối ngoại Trung ương: Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các hoạt động đối ngoại nhân dân và phối hợp triển khai các hoạt động đối ngoại nhân dân quan trọng.
Các đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải quy định cụ thể về lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, cụ thể hóa, triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng về công tác dân vận và phân công cán bộ lãnh đạo phụ trách công tác dân vận.
Đối với tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương. Bổ sung nội dung: Lãnh đạo, chỉ đạo, phân công người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, tổ chức tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với nhân dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, giải quyết vấn đề phức tạp trên địa bàn. Định kỳ giao ban, làm việc giữa thường trực cấp ủy với ban dân vận, chính quyền, lực lượng vũ trang, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội về tình hình nhân dân và công tác dân vận. Cấp ủy nơi không có ban dân vận thì chỉ đạo, phân công một đồng chí cấp ủy phụ trách công tác dân vận.
3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với công tác dân vận
Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bổ sung nội dung phối hợp với MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội; lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Đối với Chính phủ: Bổ sung các nội dung: Tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp ý kiến, giám sát, phản biện trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là những chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân. Chỉ đạo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và đối thoại giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân.
Các bộ, ngành: Bổ sung nội dung: Tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp ý kiến, giám sát, phản biện trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là những chính sách, pháp luật liên quan đến đời sống nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện công tác dân vận.
Các cơ quan tư pháp: Bổ sung nội dung nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân; thực hiện tốt đối thoại, hòa giải tại tòa án; phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện công tác dân vận.
Đối với lực lượng vũ trang: Bổ sung nội dung tham gia xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Chính quyền các cấp: Bổ sung nội dung phân công đồng chí Chủ tịch UBND phụ trách công tác dân vận và chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc phân công một đồng chí lãnh đạo phụ trách công tác dân vận.
4. Trách nhiệm của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác dân vận
Đối với MTTQ Việt Nam: Bổ sung nội dung: Giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Làm nòng cốt triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở, hoạt động tự quản, hòa giải trong cộng đồng dân cư. Tham gia tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc xá, cử bào chữa viên, hội thẩm nhân dân.
Đối với các Tổ chức chính trị - xã hội: Bổ sung nội dung: Giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Tham gia thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân.
5. Quy định về phương thức thực hiện công tác dân vận
Bổ sung nội dung: Khi có tình huống phức tạp liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo ứng phó kịp thời; thông tin nhanh đến ban dân vận, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội. Ban dân vận chủ trì, phối hợp MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, tổ chức liên quan vận động đoàn viên, hội viên, nhân dân chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; phát huy vai trò nòng cốt chính trị tham gia lực lượng xung kích.