Gia đình cháu viết giấy biên bản nhận tiền với chị ta. Việc của cháu không được, gia đình cháu đòi tiền thì chị ta bảo đợi mấy ngày, tháng, năm chị ta cũng không trả. Gia đình cháu đòi quá thì chị ta trả 40 triệu và viết giấy "vay nợ" với gia đình cháu, 80 triệu còn lại hẹn 2 tháng sau sẽ trả số còn lại. Bây giờ chị ta không trả.

Thưa luật sư cháu phải làm như thế nào ạ? Cháu có vi phạm pháp luật không vì Cháu nghe nói xin việc viết giấy vay nợ là vi phạm pháp luật. Cháu rất mong luật sư giúp cháu. Cháu cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005 

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

2. Nội dung trả lời:

Thứ nhất, bạn có thể đòi lại tiền theo hướng khởi kiện đòi lại tài sản do giao dịch dân sự vô hiệu:

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Giao dịch giữa bạn và người bạn nhờ xin việc có mục đích là dùng tiền bạc bằng cách nào đó không mang ý nghĩa trong sáng để đưa bạn vào làm việc dễ dàng hơn những người khác, vì thế xét về khía cạnh chuẩn mực đạo đức xã hội pháp luật không bảo về những giao dịch như vậy. Và cũng theo Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 như trên đã trích thì đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu. Trong trường hợp của bạn, vì bên kia trốn tránh nên, bạn có thể dùng cá giấy biên nhận làm chứng cứ để khởi kiện vụ án dân sự đòi lại tài sản.

Thứ hai, bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người kia trả số tiền đã ghi nợ với bạn dựa vào chứng cứ là giấy vay nợ.

Ngoài ra, nếu ông A đã có ý định lừa đảo ngay từ đầu, nghĩa là người này không có chức vụ, quyền hạn nhưng đưa ra thông tin gian dối để gia đình bạn giao tài sản cho họ, thì hành vi này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc có truy cứu hình sự hay không thì phụ thuộc vào quá trình điều tra. Bộ luật hình sự quy định:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Còn về hành vi đưa tiền nhờ xin việc của bạn, vì theo bạn nêu thì người kia thực chất không dùng số tiền đó để xin việc cho bạn nên cũng chưa cấu thành tội Hối lộ theo Điều 289 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, vì thế bạn không vi phạm pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê