1. Tư vấn về cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ?

Thưa Luật sư! Cháu muốn nhờ luật sư giúp cháu một số vấn đề ạ. Cháu quen 1 chị qua đứa bạn và nhờ chị ta xin việc, chị ấy là giáo viên thưa luật sư. Lúc đầu chị ta bảo gia đình cháu cho chị ta 60 triệu, khi nào được việc thì thêm 60 triệu sau nhưng đợi mãi chằng thấy tin tức gì. Một thời gian sau chị ta đòi gia đình cháu thêm 60 triệu sẽ được việc luôn.
Gia đình cháu viết giấy biên bản nhận tiền với chị ta. Việc của cháu không được, gia đình cháu đòi tiền thì chị ta bảo đợi mấy ngày, tháng, năm chị ta cũng không trả. Gia đình cháu đòi quá thì chị ta trả 40 triệu và viết giấy "vay nợ" với gia đình cháu, 80 triệu còn lại hẹn 2 tháng sau sẽ trả số còn lại. Bây giờ chị ta không trả.
Thưa luật sư cháu phải làm như thế nào ạ? Cháu có vi phạm pháp luật không vì Cháu nghe nói xin việc viết giấy vay nợ là vi phạm pháp luật ?
Cháu rất mong luật sư giúp cháu. Cháu cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, bạn có thể đòi lại tiền theo hướng khởi kiện đòi lại tài sản do giao dịch dân sự vô hiệu, căn cứ Bộ luật dân sự năm 2005 :

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Giao dịch giữa bạn và người bạn nhờ xin việc có mục đích là dùng tiền bạc bằng cách nào đó không mang ý nghĩa trong sáng để đưa bạn vào làm việc dễ dàng hơn những người khác, vì thế xét về khía cạnh chuẩn mực đạo đức xã hội pháp luật không bảo về những giao dịch như vậy. Và cũng theo Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 như trên đã trích thì đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu. Trong trường hợp của bạn, vì bên kia trốn tránh nên, bạn có thể dùng cá giấy biên nhận làm chứng cứ để khởi kiện vụ án dân sự đòi lại tài sản.

Thứ hai, bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người kia trả số tiền đã ghi nợ với bạn dựa vào chứng cứ là giấy vay nợ.

Ngoài ra, nếu ông A đã có ý định lừa đảo ngay từ đầu, nghĩa là người này không có chức vụ, quyền hạn nhưng đưa ra thông tin gian dối để gia đình bạn giao tài sản cho họ, thì hành vi này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc có truy cứu hình sự hay không thì phụ thuộc vào quá trình điều tra. Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Còn về hành vi đưa tiền nhờ xin việc của bạn, vì theo bạn nêu thì người kia thực chất không dùng số tiền đó để xin việc cho bạn nên cũng chưa cấu thành tội Hối lộ theo Điều 289 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, vì thế bạn không vi phạm pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

2. Tư vấn lấy lại số tiền bị lừa chạy việc ?

Thưa luật sư! Tôi ra trường năm 2013, lúc đó chồng sắp cưới của tôi (hiện tại là chồng chồng) có quen 1 người, người đó nói có thể chạy cho tôi đi dạy tại 1 trường thuộc quê chồng tôi (vì trước đó người này cũng đã chạy được việc cho anh trai của chồng tôi) nên chúng tôi đã giao cho ông ta 80 triệu đồng để chạy việc cho tôi.
Nhưng đến nay đã hơn 2 năm mà tôi vẫn chưa có việc, tiền thì ông ta lần lừa mãi không trả. Vậy luật sư tư vấn giúp tôi để tôi lấy lại được số tiền đó ?
Xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để đòi lại được số tiền đó thì bạn phải có căn cứ chứng minh về việc đưa tiền cho người đó, chẳng hạn như giấy vay tiền...và những thỏa thuận về việc vay tiền, chạy việc đó (thỏa thuận khi không chạy được việc thì người chạy việc phải có trách nhiệm hoàn trả...).

Khi có đủ chứng cứ chứng minh hành vi không trả tiền của người này thì bạn có thể kiện ông ta vì việc không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng theo một trong các điều quy định tại Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội như sau tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú:

"Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.”

"Điều 305. Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. "

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác....

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận."

Hoặc bạn có thể tố cáo với cơ quan công an, việc kiểm sát hoặc tòa án. Người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong các tội sau:

Nếu người đó sau khi nhận chạy việc cho bạn nhưng sau đó không chạy được việc mà không trả lại tiền cho bạn thì có thể bị truy cứu TNHS theo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Nếu trường hợp ông ta biết rằng không chạy được việc nhưng vẫn cố thỏa thuận và sau đó không trả lại tiền thì có thể bị truy cứu TNHS theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

3. Có đòi lại được số tiền lừa chạy việc không ?

Thưa luật sư! Tóm tắt nội dung: thông qua thằng e tôi tôi quen anh ta, anh ta nói có các mối quan hệ với cấp trên có thể xin việc cho con cháu được. gia đình tôi dồn tiền cho anh ta là 135 triệu đồng từ tháng 6/2016 bảo hết tháng 7/2016 là được việc.
Từ đó đến nay không những không được việc mà anh ta còn không nghe máy và luôn tìm cách chạy chốn không trả tiền tôi. tôi đã đến nhà tìm nhiều lần đều không vào nhà được vì người nhà không mở cửa. hàng xóm nói: nó lừa nhiều người lắm, tôi đến công an xã báo cáo kèm thoe chứng từ thì ông công an nói . bó tay với thằng này rồi, vậy tôi biết làm thế nào? nay tôi muốn nhận sự tư vấn kính mong luật sư giúp đỡ.
Tôi xin trân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bạn có thể tố cáo với cơ quan công an, việc kiểm sát hoặc tòa án. Người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong các tội sau:

Nếu người đó sau khi nhận chạy việc cho bạn nhưng sau đó không chạy được việc mà không trả lại tiền cho bạn thì có thể bị truy cứu TNHS theo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Nếu trường hợp ông ta biết rằng không chạy được việc nhưng vẫn cố thỏa thuận và sau đó không trả lại tiền thì có thể bị truy cứu TNHS theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn tố cáo hành vi lừa đảo

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

4. Làm thế nào khi bị lừa chạy việc ?

Thưa Luật sư, Em muốn hỏi chút về chuyện liên quan đến nợ tiền không trả ạ. Em có nhờ anh M (chỗ quen biết) chạy việc cho em, từ tháng 5/2014 đến 7/2015 tổng 160 triệu, giao trong 5 lần, có giấy giao tiền viết tay đầy đủ từng lần giao tiền, hứa sẽ lo việc giúp.
Hẹn 12 lo xong việc nếu không được sẽ hoàn trả đầy đủ, nhưng 9/2015 không lo được việc và viết giấy trả nợ trong tháng 10 (khi em biết việc em với công ty đó bị hủy từ tháng 5/2015 do em tìm hiểu đc, anh ấy vẫn giấu, lúc đó em liên lạc thì không được và tìm đến nhà và anh ấy đã viết giấy nợ) rùi. Vợ anh ấy sang nói chuyện xin trả 3 lần, lần 1 đã trả 50 triệu , lần 2 vào 10/11, lần 3 vào 25/12, viết nợ ký đầy đủ, nhưng đến lần 2 không trả và em đã sang nói chuyện thì được biết anh ấy cũng chạy việc cho 1 người nữa nợ 126 triệu, anh ấy nói lý do là bị người ta lừa hết, bây giờ vợ đổi ý không trả nữa và mặc kệ bảo em tìm anh ấy đòi (giờ không liên lạc hay biết đi đâu). Gia đình em giờ phải làm sao ạ, đưa ra pháp luật có được không ạ ?
Mong luật sư tư vấn cách giải quyết ạ. Em xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khi vợ anh M đến nhà bạn thương lượng về việc sẽ trả nợ số tiền do chạy việc không thành. Nếu đã viết giấy trả nợ mà trong giấy có ghi vợ anh M sẽ trả nợ thay cho chồng hoặc cả hai vợ chồng cùng trả nợ, nhưng sau 2 lần ký giấy trả nợ mà vợ chồng anh M không trả nữa thì bạn có thể kiện vợ chồng anh M về vi phạm nghĩa vụ dân sự theo một trong các điều quy định tại Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội như sau:

"Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.”

"Điều 305. Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1. Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. "

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác....

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận."

Bạn có thể khởi kiện ra tòa án nơi vợ chồng anh M sinh sống để yêu cầu tòa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi khởi kiện tại tòa, bạn cần cung cấp chứng cứ chứng minh về việc vay và cho vay giữa hai bên. Tòa sẽ xác minh quan hệ vay nợ đó có đúng hay không. Nếu đúng như những gì bạn trình bày, tòa sẽ yêu cầu người kia trả lại khoản tiền vay cho bạn. Trong trường hợp vợ chồng anh M không đủ khả năng trả tiền cho bạn thì tòa sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án buộc phải trả nợ.

Hoặc bạn cũng có thể tố cáo hành vi của anh M với tội lạm dụng tín nhiệm tài sản.

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Dấu hiệu pháp lí:

- Chủ thể: người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

- Khách thể: quyền sở hữu tài sản của người khác.

- Mặt khách quan:

Hành vi: bao gồm các giai đoạn:

+ Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác.

+ Sau khi có được tài sản, người phạm tội không thực hiện như cam kết trong hợp đồng, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.

Hậu quả: người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, hoặc đã bỏ trốn, hoặc không còn khả năng trả lại tài sản.

- Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Như vậy, anh M chạy việc cho bạn từ tháng 5/2015 nhưng công việc đã bị hủy trong tháng đó mà anh M đã không cho bạn biết là không xin được việc. Sau đó vợ anh M sang nhà bạn trả nợ 1 lần nhưng những lần sau không trả nữa, và hiện tại cũng không liên lạc được với anh M thì bạn có thể kiện anh M về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì hành vi của anh M đã đủ yếu tố cấu thành tội này.

Nếu trường hợp công việc đã bị hủy từ trước khi anh M nhận chạy việc cho bạn thì bạn có thể khởi kiện anh M về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Vì bạn đã không thể liên lạc được với anh M. Bạn có thể tố cáo hành vi của anh M với cơ quan công an. Cùng với đơn tố cáo bạn cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc nợ tiền. Sau khi xem xét và xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

5. Bị lừa tiền xin việc - giải quyết như thế nào ?

Thưa Luật sư! Cháu muốn nhờ luật sư giúp cháu một số vấn đề ạ. Cháu quen 1 chị qua đứa bạn và nhờ chị ta xin việc, chị ấy là giáo viên thưa luật sư. Lúc đầu chị ta bảo gia đình cháu cho chị ta 60 triệu, khi nào được việc thì thêm 60 triệu sau nhưng đợi mãi chằng thấy tin tức gì. Một thời gian sau chị ta đòi gia đình cháu thêm 60 triệu sẽ được việc luôn.
Gia đình cháu viết giấy biên bản nhận tiền với chị ta. Việc của cháu không được, gia đình cháu đòi tiền thì chị ta bảo đợi mấy ngày, tháng, năm chị ta cũng không trả. Gia đình cháu đòi quá thì chị ta trả 40 triệu và viết giấy "vay nợ" với gia đình cháu, 80 triệu còn lại hẹn 2 tháng sau sẽ trả số còn lại. Bây giờ chị ta không trả.
Thưa luật sư cháu phải làm như thế nào ạ? Cháu có vi phạm pháp luật không vì Cháu nghe nói xin việc viết giấy vay nợ là vi phạm pháp luật.
Cháu rất mong luật sư giúp cháu. Cháu cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn xử lý hành vi lừa tiền xin việc, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, bạn có thể đòi lại tiền theo hướng khởi kiện đòi lại tài sản do giao dịch dân sự vô hiệu theo Bộ luật dân sự năm 2005 :

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Giao dịch giữa bạn và người bạn nhờ xin việc có mục đích là dùng tiền bạc bằng cách nào đó không mang ý nghĩa trong sáng để đưa bạn vào làm việc dễ dàng hơn những người khác, vì thế xét về khía cạnh chuẩn mực đạo đức xã hội pháp luật không bảo về những giao dịch như vậy. Và cũng theo Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 như trên đã trích thì đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu. Trong trường hợp của bạn, vì bên kia trốn tránh nên, bạn có thể dùng cá giấy biên nhận làm chứng cứ để khởi kiện vụ án dân sự đòi lại tài sản.

Thứ hai, bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người kia trả số tiền đã ghi nợ với bạn dựa vào chứng cứ là giấy vay nợ.

Ngoài ra, nếu ông A đã có ý định lừa đảo ngay từ đầu, nghĩa là người này không có chức vụ, quyền hạn nhưng đưa ra thông tin gian dối để gia đình bạn giao tài sản cho họ, thì hành vi này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc có truy cứu hình sự hay không thì phụ thuộc vào quá trình điều tra. Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Còn về hành vi đưa tiền nhờ xin việc của bạn, vì theo bạn nêu thì người kia thực chất không dùng số tiền đó để xin việc cho bạn nên cũng chưa cấu thành tội Hối lộ theo Điều 289 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, vì thế bạn không vi phạm pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo