1. Tư vấn về tước quyền thừa kế ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ba tôi mất 94 không để di chúc , trước đây (2001) chị tôi xin cấp chủ quyền tự khai là đất ba cho .
khi phát hiện , những đồng thừa kế ngăn cản , và bây giờ nha tren đã ra chủ quyền cho tất cả đồng thừa kế.
Như vậy, với hành vi giả mạo giấy tờ của chị tôi (như lúc trước ) tôi có thể kiện ra toà đê tước quyền thừa kế của bả được không ?".
Xin cám ơn!

Tư vấn về tước quyền thừa kế ?

>> Xem thêm:  Môi trường là gì ? Vai trò của môi trường là gì ? Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ?

Luật sư tư vấn về quyền thừa kế theo luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 621, Bộ luật dân sự 2015 quy định về đối tượng không được hưởng di sản:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Như vậy, chị của bạn chỉ bị tước quyền thừa kế khi có một trong những hành vi quy định tại Điều 621, nhưng vì bạn không nói rõ hành vi giả mạo giấy tờ có phải là chị ấy có hành vi giả mạo di chúc không nên chúng tôi không thể kết luận được. Bạn có thể dựa vào nội dung trên để trả lời cau hỏi của mình

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Bài viết tham khảo thêm: Tư vấn về hành vi giả mạo chữ ký về thừa kế quyền sử dụng đất ?

2. Thủ tục lập di chúc phân chia quyền thừa kế ?

>> Xem thêm:  Mẫu di chúc thừa kế tài sản, đất đai mới nhất năm 2022

Kính thưa quý văn phòng, Mong quý vị giúp tôi vài thắc mắc về thủ tục lập di chúc: Bố vợ tôi có 2 người vợ 1 người vợ cả có danh nghĩa của pháp luật có 2 người con gái và 1 người con trai. Vợ tôi là con của bà thứ ,và không có danh nghĩa của pháp luật. Khi bố mất có để lại di chúc chia cho các con mỗi người 1 miếng đất trong đó có cả người con nuôi của bố cũng có , nhưng vợ chồng tôi được biết tin bố mất, lên tới nơi mọi người đã công bố di chúc xong.

Vợ tôi không được biết đến chỉ nghe những người bạn của bố bảo bố có viết di chúc cho vợ chồng tôi 1 miếng đất như mọi người và bảo tôi hỏi bà mẹ cả . Nhưng tôi hỏi bà mẹ cả bảo không cho đất tôi hỏi cho vợ chồng tôi xem di chúc thì bà không biết , vậy liệu ở chính quyền địa phương khi lập di chúc cho bố tôi có phải lưu lại 1 bản di chúc không ? Và anh con nuôi cũng được chia tài sản của bố.

Vậy vợ tôi có được hưởng di sản thừa kế của bố không?

Mong nhận được sự quan tâm của quý văn phòng!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi:1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 26, Luật công chứng năm 2014 quy định về việc công chứng di chúc như sau:

Điều 56. Công chứng di chúc

1. Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc.

2. Trường hợp công chứng viên nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì công chứng viên đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó.

Trường hợp tính mạng người lập di chúc bị đe dọa thì người yêu cầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng.

3. Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó.

Như vậy, UBND xã chỉ ghi chép và lập thành văn bản di chúc, không có sao chép di chúc.

>> Xem thêm:  Phát triển bền vững là gì ? Quy định pháp luật về phát triển bền vững

Theo quy định tại Điều 647, Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định như sau:

Điều 647. Công bố di chúc

1. Trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc.

2. Trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố di chúc.

3. Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc.

4. Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc.

5. Trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực.

Như vậy, theo nguyên tắc, sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc. Nếu như bạn chắc chắn mình có tên trong di chúc trên mà mọi người đã cố tình dấu phần tài sản của vợ bạn, thì bạn có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật dân sự như sau:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

3. Xin anh chị hướng dẫn giúp em về quyền thừa kế ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông bà ngoại em có 3 căn nhà sát nhau và 1 miếng đất phía sau 3 căn nhà đó. Miếng đất phía sau đó ông bà đã bán cho ba mẹ em 11 năm về trước khi ông bà đều vẫn còn sống, mẹ em là người lập giấy tờ:bên mua mẹ em ký tên, bên bán ông ngoại em ký tên, hợp đồng viết tay không có công chứng.
Hộ khẩu vẫn còn tên mẹ em là chủ hộ mặc dù mẹ em đã chết T5/2010. Em, em gái và ba của em hiện tại vẫn sống trong ngôi nhà xây trên mảnh đất này. Ông bà ngoại em có tất cả 3 người con trai và 4 người con gái : trong đó chỉ có 2 người con trai và 2 người con gái sống chung với ông bà ngoại của em ở ngôi nhà chính giữa, còn 2 ngôi nhà bên cạnh thì cho người ta thuê. Khi ông bà chết, 4 người cậu và dì của em vẫn sống y như vậy. Bây giờ xảy ra tranh cãi, những người cậu và dì của em cấm em qua lại nhà. Vậy bây giờ em muốn 3 ngôi nhà trên được bán và chia đều làm 7 phần, trong đó em và em gái của em thừa kế phần của mẹ em thì có được không? P/S: 3 ngôi nhà từ khi ông bà mất đã chuyển tên chủ hộ khẩu từ tên ông ngoại em sang tên của cậu 6 em, 3 ngôi nhà này em không biết có sổ hồng, sổ đỏ gì không. Em đã không đề nghị bán nhà chia liền khi ông ngoại mất.

>> Xem thêm:  Mẫu văn bản từ chối nhận di sản thừa kế mới nhất năm 2022

Vậy bây giờ em muốn chia liệu có còn hiệu lực không? Còn ngôi nhà trên mảnh đất ông bà bán cho cha mẹ em vẫn là của riêng 3 cha con em phải không?
Em chân thành cám ơn!

Tư vấn pháp luật về quyền thừa kế

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162

 

Trả lời:

* Về mảnh đất và ngôi nhà mẹ bạn mua lại của ông bà:

Ông bà đã đồng ý bán cho mẹ bạn phần đất phía sau 3 ngôi nhà và thực hiện hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, hợp đồng mua bán nhà giữa mẹ bạn và ông bà không công chứng là trái với pháp luật:

>> Xem thêm:  Thủ tục xin nghỉ việc theo quy định pháp luật mới năm 2022

Điều 450. Hình thức hợp đồng mua bán nhà ở

Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Do vậy, để ngôi nhà đó trở thành khối tài sản riêng của mẹ bạn thì hợp đồng mua bán nhà phải được đi công chứng. Và lúc đó, phần mảnh đất đó sẽ được chia thừa kế theo pháp luật như sau:

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 651, : Người thừa kế theo pháp luật

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

* Bạn có đưa thông tin là: 3 ngôi nhà từ khi ông bà mất đã chuyển tên chủ hộ khẩu từ tên ông ngoại bạn sang tên của cậu Sáu bạn.

Theo quy định tại Luật cư trú 2006 sửa đổi bổ sung 2013 - Khoản 1 Điều 29. Điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có thay đổi chủ hộ thì hộ gia đình phải làm thủ tục thay đổi chủ hộ. Người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến của chủ hộ hoặc người khác trong gia đình về việc thay đổi chủ hộ.

Tuy nhiên việc thay đổi tên của chủ hộ khẩu chỉ có ý nghĩa trong việc quản lý về mặt hành chính chứ không ảnh hưởng đến việc thừa kế.

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Do vậy, trường hợp ông bà bạn mất và không để lại di chúc, thì tài sản đó sẽ được chia theo pháp luật theo hàng thừa kế quy định tại Điều 651, Bộ luật dân sự năm 2015.

>> Xem thêm:  Ủy nhiệm chi là gì ? Quy định pháp luật về ủy nhiệm chi

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

4. Quyền thừa kế của cháu dâu quy định thế nào ?

Thưa luật sư, hiện nay sổ đỏ nhà tôi do bà Hồ Thị Được- cô ruột của ba tôi đứng tên. Trước đây, ba tôi do bà Được nuôi và chăm sóc. Bà Được sống độc thân, không có chồng, không có con. Cha mẹ và anh chị em của bà Được đều mất trong chiến tranh. Nay tôi muốn cho mẹ tôi thừa kế căn nhà đó được không?

Thứ nhất: ba tôi chỉ có giấy xác nhận hộ khẩu gốc của Công an quận Tân Phú Tp.HCM có quan hệ là cháu của bà Được.

Thứ hai: bà Được do ba tôi và mẹ tôi chăm sóc tới khi chết (2006).

Thứ ba: Hiện tại bà Được và ba tôi đều đã mất.

Thứ 4: người thừa kế tài sản hàng thứ 1,2 đều đã chết trong chiến tranh, không có giấy tờ chứng minh. Nhưng hàng thừa kế thứ 3 chỉ có một mình ba của tôi thôi nhưng cũng không có giấy tờ chứng minh có quan hệ. Tất cả giấy khai sinh của ba tôi và bà Được đều bị thất lạc hết.
Tôi kính mong luật sư tư vấn và đưa ra hướng giải quyết giúp tôi.

Tôi chân thành cảm ơn!

>> Xem thêm:  Phân loại nợ xấu theo quy định pháp luật ? Các thức kiểm tra nợ xấu ?

Người gửi: HC Tuấn

Trả lời:

Đối với trường hợp của bạn, bà Được không để lại di chúc nên phần di sản mà bà để lại sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Điểm c khoản 1 và khoản 3 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Giấy xác nhận sổ hộ khẩu gốc của bà Được được xác nhận bởi Công an quận Tân Phú- Tp.HCM có thể xem là bằng chứng chứng minh bố của bạn và bà Được có quan hệ cô ruột- cháu ruột. Vì vậy, bố của bạn thuộc hàng thừa kế thứ ba theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, vì bố của bạn đã mất, bố của bạn lại không phải là con của bà Được nên theo quy định tại BLDS năm 2015 về thừa kế thế vị thì bạn không được hưởng thừa kế thế vị. Thêm vào đó, theo như những gì mà bạn đã nêu thì bà Được hiện không còn ai trong diện được hưởng thừa kế, vì vậy, theo quy định tại Điều 622 BLDS thì phần di sản của bà Được sẽ thuộc về Nhà nước.

Điều 622. Tài sản không có người nhận thừa kế

Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

>> Xem thêm:  Đất thổ cư là gì ? Khái niệm về đất thổ cư theo quy định pháp luật

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

5. Tư vấn pháp luật về quyền thừa kế ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn giúp trường hợp của tôi. Ông ngoại tôi lấy bà ngoại tôi là vợ chính thức và có hai người con là mẹ tôi và dì tôi. Sau đó, ông tôi đưa một người đàn bà khác về chung sống như vợ chồng và sinh được 3 người con gồm 1 dì và 2 cậu, trong đó có 1 cậu đã hi sinh.

Ông tôi và bà tôi vẫn ở với nhau tới khi mất. Bà 2 không sống cùng ông tôi mà sống riêng ở trái bếp căn nhà cho tới khi mất và mất trước ông mà tôi khá lâu, ông tôi mất trước bà tôi 2 năm. Nay ông bà tôi đã mất được hơn 10 năm, mảnh đất ông bà tôi sinh sống là do cha ông để lại. Bây giờ ông cậu kia đang sống trên đất ấy, giờ chính quyền cho làm sổ đỏ, ông cậu này tự kê khai cấp sổ tên mình trên toàn bộ mảnh đất này mà chưa có sự đồng ý của 3 chị em gái gồm mẹ tôi và 2 dì.

Tôi xin hỏi luật sư việc làm này có đúng không? Việc chính quyền địa phương xác nhận cho ông cậu đó là đúng hay sai? Nay mẹ tôi và dì tôi đòi lại phần tài sản (1/2 mảnh đất) của bà tôi và 1 phần của ông tôi có được không? Dì con bà 2 cũng đòi 1 phần tài sản của ông tôi đ lấy chỗ đi về thờ cúng ông bà tôi và người cậu đã mất chưa co vợ con thì chúng tôi phải làm như thế nào ?

Xin cảm ơn Luật sư!

Người gửi: Trần Việt Hằng

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, ông bà ngoại của bạn không để lại di chúc vì vậy, phần đất mà ông bà để lại sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, mẹ và hai dì của bạn cũng đều có quyền được hưởng thừa kế đối với mảnh đất mà ông bà ngoại của bạn để lại theo những phần bằng nhau.

Như vậy, hiện nay, ông cậu của bạn đang là người quản lý di sản. Theo đó, khoản 2 ĐIều 617 BLDS 2015 cũng quy định:

Điều 617. Nghĩa vụ của người quản lý di sản

1. Người quản lý di sản quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;

c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;

d) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.

2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:

a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;

b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;

c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

d) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

Như vậy việc ông cậu của bạn đi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) như vậy là trái với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 617 BLDS và đương nhiên việc xác nhận của UBND xã là không đúng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Mọi vướng mắc hãy liên hệ: Luật sư tư vấn pháp luật về quyền thừa kế, gọi: 1900.6162. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty của chúng tôi.

>> Xem thêm:  Vốn là gì ? Đặc trưng, vai trò và phân loại vốn theo quy định pháp luật ?

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định mới về phân chia tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất, nhà ở ?