1. Độ tuổi lao động tại Việt Nam hiện nay là bao nhiêu?

Dựa theo quy định của Điều 3, Khoản 1 trong Bộ luật Lao động 2019, người lao động được xác định là người thực hiện công việc theo thỏa thuận với người sử dụng lao động, nhận lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát từ phía người sử dụng lao động. Theo đó, độ tuổi lao động tối thiểu được quy định là 15 tuổi, trừ khi có các trường hợp được quy định tại Mục 1, Chương XI của Bộ luật Lao động 2019.

Theo Bộ luật Lao động 2019, độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là 15 tuổi, trừ những trường hợp được nêu rõ tại Điều 143, Khoản 3 và 4 của Bộ luật. Cụ thể, người lao động từ 13 đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được thực hiện công việc nhẹ theo danh mục được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được thực hiện các công việc được quy định tại Khoản 3 của Điều 145 trong Bộ luật Lao động 2019.

 

2. Tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay là bao nhiêu?

Theo thông cáo báo chí của Tổng cục Thống kê về tình hình lao động việc làm Quý II năm 2023, đặc biệt là tình hình thất nghiệp trong độ tuổi, đã ghi nhận những thay đổi đáng chú ý. So với quý trước, tình trạng thất nghiệp trong quý II không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về tỷ lệ. Thị trường lao động Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức đặc biệt.

Theo ước tính mới nhất của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu được dự báo giảm 0,1 điểm phần trăm trong năm 2023. Điều này có ý nghĩa là số lượng người thất nghiệp trên toàn cầu sẽ giảm đi 1 triệu người, nhờ vào khả năng phục hồi thị trường lao động nhanh hơn so với dự đoán ở các nước có thu nhập cao.

Thị trường lao động toàn cầu đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong bối cảnh kinh tế thế giới. Để ổn định và củng cố thị trường lao động, việc thực hiện các chính sách và biện pháp để giải quyết những thách thức hiện nay là cực kỳ quan trọng. Nếu không có những biện pháp thích hợp, tình trạng này có thể ảnh hưởng tiêu cực và kéo dài, gây ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển bền vững.

Trong Quý II năm 2023, số lao động mất việc đạt 217,8 nghìn người, chủ yếu tập trung trong các ngành dệt may, da giày, sản xuất linh kiện và sản phẩm điện tử, chế biến gỗ (chiếm tỷ trọng lần lượt là 16,8%; 14,1%; 14,8% và 6,1%). Nhiều công nhân mất việc tập trung ở các tỉnh có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất như Bình Dương (khoảng 83,2 nghìn người), Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 30,4 nghìn người), Bắc Ninh (khoảng 10,7 nghìn người), Bắc Giang (khoảng 9,3 nghìn người),...

So với quý trước và cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15 đến 24 tuổi) và tỷ lệ thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo đã giảm.

Trong Quý II năm 2023, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 15-24 là 7,41%, giảm 0,20 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tại khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên là 9,60%, cao hơn 3,31 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn.

So sánh với quý trước và cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp tăng ở khu vực thành thị, tăng tương ứng 0,14 và 0,47 điểm phần trăm, trong khi giảm ở khu vực nông thôn, giảm tương ứng 0,36 và 0,54 điểm phần trăm.

Trong Quý II năm 2023, toàn quốc có hơn 1,4 triệu thanh niên 15-24 tuổi không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 11,3% tổng số thanh niên. Con số này giảm 96,6 nghìn người so với quý trước và giảm 40,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị, là 12,6% so với 9,2%, và ở nữ thanh niên cao hơn so với nam thanh niên, là 12,8% so với 9,8%. So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ này giảm cả ở khu vực thành thị, nông thôn và giảm ở nữ thanh niên (tương ứng giảm 0,1; 0,7 và 0,9 điểm phần trăm) và không thay đổi đối với nam thanh niên.

So với quý trước, tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo giảm ở hầu hết các vùng kinh tế-xã hội, trừ vùng Tây Nguyên.

Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quý II năm 2023 là 8,6%, cao hơn 2,1 lần so với Hà Nội. So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ ở Thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,9 điểm phần trăm, trong khi ở Hà Nội giảm 2,5 điểm phần trăm.

 

3. Thống kê mức lương trung bình của người Việt Nam hiện nay là bao nhiêu?

Quý I năm 2023:

Dựa theo Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm Quý I năm 2023, được công bố trên trang Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê, có thông tin về mức lương trung bình của người lao động như sau:

- Thu nhập bình quân mỗi tháng của người lao động trong Quý I năm 2023 đạt 7,0 triệu đồng.

- Lao động nam có thu nhập bình quân mỗi tháng cao hơn 1,36 lần so với lao động nữ, với con số là 8,0 triệu đồng so với 5,9 triệu đồng.

- Thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị lớn hơn 1,41 lần so với khu vực nông thôn, đạt 8,6 triệu đồng so với 6,1 triệu đồng.

- Lao động làm công hưởng lương trong Quý I năm 2023 có thu nhập bình quân là 7,9 triệu đồng.

Quý II năm 2023:

Theo Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm Quý II năm 2023, được đăng tải trên trang Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê, có báo cáo về mức lương trung bình của người lao động như sau:

Thu nhập bình quân mỗi tháng của người lao động trong Quý II/2023 tiếp tục là 7,0 triệu đồng. Tuy nhiên, so với Quý I/2023, con số này giảm 79 nghìn đồng và tăng 355 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2022.

 

4. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi nào cao nhất?

So với quý trước, tình hình thất nghiệp trong quý II năm 2023 không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về tỷ lệ, đặt ra những thách thức lớn cho thị trường lao động tại Việt Nam. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động trong quý II năm 2023 đạt 2,30%, tăng 0,05 điểm phần trăm so với quý trước, nhưng giảm 0,02 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, tình hình thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị vẫn duy trì ổn định dưới mức 3%, cụ thể là 2,75% trong quý II năm 2023, sau khi giảm từ 2,98% (quý II năm 2022) và 2,66% (quý I năm 2023).

So sánh với quý trước và cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (15 đến 24 tuổi) và tỷ lệ thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo đã giảm. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý II năm 2023 là 7,41%, giảm 0,20 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,22 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý II năm 2023, số thanh niên 15-24 tuổi không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo giảm 96,6 nghìn người so với quý trước và giảm 40,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn vẫn cao hơn khu vực thành thị, là 12,6% so với 9,2%. Nữ thanh niên cũng gặp khó khăn hơn nam thanh niên, với tỷ lệ lần lượt là 12,8% và 9,8%. So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ này giảm ở cả khu vực thành thị, nông thôn và giảm ở nữ thanh niên (tương ứng giảm 0,1; 0,7 và 0,9 điểm phần trăm) và không thay đổi ở nam thanh niên.

So với quý trước, tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo giảm ở hầu hết các vùng kinh tế-xã hội, trừ vùng Tây Nguyên.

Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quý II năm 2023 là 8,6%, cao hơn 2,1 lần so với Hà Nội. So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ ở Thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,9 điểm phần trăm, trong khi ở Hà Nội giảm 2,5 điểm phần trăm.

Bài viết liên quan: Thất nghiệp tự nhiên là gì? Phân loại, tác động thất nghiệp tự nhiên

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!