1. Thành phần trong nước tăng lực tác động tới cơ thể như thế nào?
Theo thống kê năm 2019, khoảng 34% người Việt Nam được hỏi sử dụng nước tăng lực tại nhà vào các buổi họp mặt gia đình, trong khi 23% tiêu thụ nước tăng lực để giải khát.
Nước tăng lực hay bị nhẫm lẫn với đồ uống thể thao nhưng sự thật, nước tăng lực là một sản phẩm hoàn toàn khác. Nước tăng lực chứa một lượng đường lớn và caffeine. Thừa đường và cafeine dẫn đến các hậu quả như: mất ngủ, các vấn đề về tim, tăng huyết áp, thừa cân và béo phì.

Công thức nước tăng lực của các hãng có thể khác nhau, nhưng hầu hết đều sử dụng chất Taurine. Taurine là một loại acid amin, nhưng không phải là loại acid amin thiết yếu. Taurine được tìm thấy nhiều trong não và có vai trò quan trọng trong việc phát triển não, nhất là với tiểu não và võng mạc (mắt). Tuy nhiên, nếu đưa Taurine vào cơ thể qua thực phẩm, thì Taurine sẽ bị thải ra ngoài sau khi đã chuyển hóa thành acid mật. Nói cách khác, tính "tăng lực" của Taurine vẫn còn chưa rõ ràng.
Một nhóm chất khác cũng hiện diện trong nước tăng lực, đó là các vitamin nhóm B, như B1, B2, B6.... giữ vai trò chuyển hóa năng lượng của tế bào. Nếu cơ thể thiếu chúng, dễ tạo cảm giác mệt mỏi, khả năng chống stress kém.... Nước tăng lực thường chứa hàm lượng vitamin nhóm B cao, thậm chí vượt quá cả nhu cầu. Việc dư thừa các vitamin nhóm B (trừ vitamin B12) không có lợi mà cũng chẳng có hại bởi cơ thể sẽ thải bớt ra ngoài.
2. Tác hại khi uống nhiều nước tăng lực
- Hầu hết các loại nước tăng lực đều chứa một lượng chất kích thích caffeine, có kích thích hệ thần kinh trung ương của bạn. Chất caffeine này cung cấp cho bạn năng lượng và tăng sự tỉnh táo. Theo nghiên cứu cho thấy, trong một tách cafe trung bình 8 ounce có chứa khoảng 95 - 200 milligram cafeine. Trong khi đó, 2 ounce nước tăng lực có chứa lượng caffeine lên đến 200 - 207 mg.

Caffeine được cho là tương đối an toàn khi sử dụng với liều lượng nhỏ, ví dụ như lượng caffeine có trong một tách cà phê hoặc trà. Tuy nhiên, nó có thể trở nên nguy hiểm hơn đối với sức khỏe nếu tiêu thụ với liều lượng lớn - trên 499 mg caffeine. Quá liều cafeine có thể dẫn đến một số số triệu chứng như khó thở, nhịp tim không đều, tiêu chảy, co giật hoặc sốt. Thậm chí, nó cũng có thể gây ra các vấn đề sức khỏe đổi với những người bị dị ứng với caffeine, phụ nữ mang thai. những người có vấn đề về huyết áp hoặc điều hòa nhịp tim.
Bên cạnh cafeine, các sản phẩm nước tăng lực còn chứa một số thành phần khác, chẳng hạn như guarana và nhân sâm. Những chất phụ gia này có thể làm tăng năng lượng của thức uống và cả những tác dụng phụ của caffeien.
Mặt khác, các loại nước tăng lực thường chưa một lượng lớn đường để hỗ trợ cho tác dụng tăng cường năng lượng. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, 1 khẩu phần nước tăng lực có thẻ chứa tới hơn 30 gam đường. Việc tiêu thụ các loại đồ uống có đường có liên quan đến các tình trạng béo phì, huyết áp cap và cholesterol cao trong máu, thậm chí có thể làm tăng nguy cơ phát triền các vấn đề về tim mạch.
Nhiều thành phần trong nước tăng lực có thể là mới đối với các sản phẩm thương mại, do đó chưa có nhiều nghiên cứu về chúng, chẳng hạn như cartine, glucuronolactone, inositol, nhân sâm panax, siêu citrimax và taurine. Thậm chí, nhiều loại nước tăng lực còn chưa cồn, tuy nhiên, nó đã được Cục Quản lý thực phẩm và Dược phẩm cấm bán vì không an toàn đối với sức khỏe.
- Uống nước tăng lực có nguy cơ quá tải lượng đường
Sau nước, đường là thành phần chính cho nước tăng lực. Một lon nước tăng lực trung bình chứa khoảng 41 gam đường. Trong khi đó, Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến nghị, nam giới trưởng thành một ngày không nên tiêu thụ quá 9 muỗng cà phê, tương đương với 37,5 gam đường.
Do vậy, việc uống quá nhiều nước tăng lực có thể dẫn tới thừa lượng đường, dẫn tới tăng cân và tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch và bệnh gout, ảnh hưởng tới răng miệng và nguy cơ tăng cân.

- Uống nước tăng lực có nguy cơ quá tải caffeine và nghiện caffeine
Nước tăng lực có nhiều caffeine - một chất giúp kích thích hệ thần kinh và mang đến cảm giác tỉnh táo. Với một lon nước tăng lực thông thường có thể cung cấp tới 171 miligram caffeine, gấp 38 lần lượng ccafeine của một lon nước ngọt có ga hoặc gấp 7 lần nồng độ caffeien của một tách cà phê. Trong khi đó, theo khuyến nghị của cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu EFSA, mức tiêu thụ hành ngày an toàn của caffeine ở người trưởng thành là 400 miligram.

Uống nước tăng lực thường xuyên có thể dẫn tới tình trạng nghiện caffeine. Caffeine giúp tỉnh táo, tập trung và sảng khoái. Vì vậy, khi sử dụng nhiều caffeine, cơ thế sẽ luôn cảm thấy cần caffeine, đòi hỏi phải có caffeine trước khi hoạt động và làm việc. Nghiện caffeine dẫn đến giảm khả năng tự hoạt động của bản thân.
- Uống nước tăng lực có nguy cơ thừa calo, béo phì
Một lon nước tăng lực chứa trung bình 200 calo, tương đương 10 -15% tổng năng lượng cần thiết đối với một người trưởng thành. Uống nhiều nước tăng lực có nguy cơ gây thừa calo, béo phì.

- Uống nước tăng lực có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch
Caffeine kích thích tới hệ thần kinh trung ương, làm tăng nhịp tim và có thể gây ra tình trạng đánh trống ngực hoặc cảm giác hồi hộp cũng như các vẫn đề khác ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch.
- Uống nước tăng lực có nguy cơ rối loạn tiêu hóa
Nhiều người nhạy cảm với caffeine cũng có thể gặp tình trạng khó tiêu, đi ngoài sau khi uống một lượng caffeine dù nhỏ. Bởi caffeine có tác dụng nhuận tràng, tăng sức co bóp của các cơ ruột non và ruột già dẫn tới thức ăn khó tiêu hóa và hấp thụ vào ruột gây ra các con cơ thắt dạ dày.
- Uống nước tăng lực có nguy cơ rối loạn cương dương
Các cuộc khảo sát về sức khỏe và dinh dưỡng cho thấy nam giới tiêu thụ lượng caffeine vừa phải ít bị rối loạn cương dương hơn nam giới tiêu thụ nhiều caffeine. Đối với nam giới thừa cân hoặc bép phì hay bị huyết áp cao, tiêu thụ nhiều caffeine thì tỷ lệ bị rối loạn cương dương càng tăng cao.

- Uống nước tăng lực có nguy cơ bị huyết áp cao
Những người bị huyết áp cao và bệnh tim mạch không sử dụng caffeine. Không nên uống nước tăng lực trước khi đi ngủ bởi nước tăng lực có thể khiến khó đi ngủ, ngủ không ngon và mệt mỏi khi thức dậy.
3. Những người khôn nên uống nước tăng lực
- Nước tăng lực có thể hấp dẫn đối với nhiều trẻ em và thiếu niên vì chúng thường được bày bán rất nhiếu tại tại các cửa hàng tiện lợi và được sử dụng hợp pháp cho mọi lứa tuổi. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh cho biết, có khoảng 50% thanh thiếu niên tiết lộ rằng họ thường xuyên tiêu thụ nước tăng lực. Trẻ em và thanh thiếu niên đều là những đối tượng đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi nước tăng lực vì cơ thể chúng không quen với caffeine. Một cuộc nghiên cứu đã cho thấy, tình trạng say caffeine hoặc uống quá nhiều caffeine trong nước tăng lực có thể dẫn đến nghiện chất kích thích này và làm tăng khả năng phải cai nghiện. Trẻ từ 12 - 18 tuổi không nên uống vượt quá 100 mg caffeine/ ngày. Vì vậy, không nên sử dụng nước tăng lực cho trẻ em và thanh thiếu niên trừ khi có sự giám sát cẩn thận của cha mẹ.

- Người lớn khi uống nước tăng lực nên kiểm tra nhãn để biết hàm lượng caffeine. Người lớn không nên uống nhiều hơn 200 mg caffeine mỗi lần uống và không nên uống nước tăng lực với rượu.
- Các vận động viên trẻ: tiêu thụ đồ uống tăng lực 10 - 60 phút trước khi tập thể dục có thể cải thiện sự tập trung tinh thần, sự tỉnh táo và sức bền ở người lớn, phần lớn thông qua tác dụng của caffeine. Tuy nhiên, các thành phần khác trong nước tăng lực cần phải nghiên cứu thêm để chứng minh tính an toàn và tác dụng của chúng đối với hiệu suất. Vì vậy, các vận động viên không nên dùng nước tăng lực trong hoặc sau khi hoạt động thể chất. Bên cạnh đó, nước uống tăng lực không thể bù nước và điện giải. Bên cạnh đó, caffeine trong nước tăng lực cũng có thể gây mất nước tăng thêm. Do vậy uống các loại nước tăng lực khi tập thể dục hoặc chơi thể thao không bù được lượng nước tiêu hao và dẫn đến mất nước.
- Đối với những người mắc bệnh đái tháo đường hoặc bệnh thận, không nên uống nước tăng lực. Lượng caffeine cao vượt mức khuyến nghị trong thời gian dài có thể có nguy cơ bị các biến chứng.
Bạn đọc có thể tham khảo bài viết: Hàm lượng Purin trong thực phẩm, đồ uống có cồn và các thực phẩm bổ sung.