Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, vai trò của Tòa án nhân dân tối cao trong việc hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể là tại các Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP; Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 được thể hiện như thế nào?

Cảm ơn!

 

Trả lời:

1. Vai trò của thực tiễn xét xử trong việc hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015

Vai trò của thực tiễn xét xử trong việc hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trước hết, cần lưu ý rằng Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 27/11/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 (theo tinh thần Nghị quyết số 109/2015/ QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội khóa XIII) nhưng sau đó hơn 07 tháng Bộ luật Hình sự thứ ba này đã bị Nghị quyết số 144/2016/ QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội khóa XIII quyết định lùi hiệu lực thi hành (cùng với ba đạo luật khác trong lĩnh vực tư pháp hình sự) để sửa đổi, bổ sung vì có nhiều lỗi về mặt kỹ thuật lập pháp; và sau gần hai năm sửa đổi, bổ sung xong thì tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, theo đó Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ lại chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018).

 

2. Điểm lưu ý thực tiễn xét xử trong việc hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015

Ở đây có một mốc thời gian rất thú vị và xứng đáng được đánh giá cao mà giới luật học cần đặc biệt lưu ý là: Vào ngày 16/6/2016 tức là từ trước đó hơn một năm (trong khi chưa có Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội khóa XIV), thì Tòa án nhân dân tối cao (mà đứng đầu là đồng chí Chánh án, PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình và trực tiếp là Vụ Pháp chế và quản lý khoa học với tư cách là bộ phận giúp việc cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao) với tinh thần lầm việc nghiêm túc để bảo đảm cho việc thi hành đúng thời hạn các quy định nhân đạo của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho những người phạm tội vì các lý do khác nhau mà bị vướng vòng lao lý đã ban hành Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một sô'quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự sô 100/2015/QH13.

 

3. Văn bản pháp luật được ban hành dựa trên nghị quyết đầu tiên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong sự kiện nghị quyết đầu tiên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ nhằm giải thích (hướng dẫn) áp dụng các quy định của một khoản của một điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng đã ghi dấu ấn của các nhà hoạt động thực tiễn có tâm, có tầm, kịp thời xây dựng, ban hành ra "Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP".

Chính vấn đề này đã cho thấy rằng, đây chính là dấu ấn của một sự khởi đầu rất tốt đẹp cho tương lai tươi sáng vì các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự ở Việt Nam (nói chung), mà trước hết là tại cơ quan tư pháp cao nhất đất nước trong việc bảo vệ nền công lý nước nhà theo tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận.

 

4. Ví dụ minh chứng cho giá trị nhân văn cao cả của nghị quyết ở mục 3 đối với quyền con người

Khi nghiên cứu những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao trong vấn đề áp dụng các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Nghị quyết 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 (gồm 08 điều) cho thấy giá trị nhân văn cao cả của nó đối với các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nước nhà thông qua một loạt các điều luật mà việc phân tích nội hàm của chúng cho thấy các luận điểm cơ bản đã cụ thể hóa tại các điều tương ứng trong văn bản pháp luật này (mà Nghị quyết số 109/2015/QH13 trưốc đó vẫn còn thiếu hoặc quy định rất chung chung). Dưới đây chỉ là một số ví dụ cụ thể để minh chứng:

a. Điều 1 (đây là điều luật nhân văn nhất trong Nghị quyết này vì có giá trị hồi tố) đề cập việc khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không áp dụng hình phạt tử hình đối vối người bị kết án theo một trong 07 cấu thành tội phạm của Bộ luật Hình sự (năm 1999), mà theo đó thì kể từ ngày 09/12/2015 (là ngày mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã chính thức được công bố trước toàn thể nhân dân) thì: a) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm đối với người bị kết án theo 07 cấu thành tội phạm mà Bộ luật Hình sự (năm 1999) có quy định hình phạt nghiêm khắc nhất này như các điều: 133, 157, 194 (chỉ đối với hành vì tàng trữ hoặc hành vi chiếm đoạt chất ma túy), 231, 316 và 322; b) Nếu khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm mà xét thấy hành vi phạm tội nêu tại 07 cấu thành tội phạm này là đặc biệt nghiêm trọng thì cũng không được kết án tử hình mà phải chuyển thành tù chung thân; c) Nếu hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 09/12/2015 thì Chánh án Tòa án nhân dân đã xét xử sơ thẩm vụ án báo cáo ngay Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.

b. Điều 2 về việc chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân đối với người bị kết án tử hình (nhưng chưa thi hành án mà đáp ứng đủ các điều kiện cụ thể quy định tại điểm “c” khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 (là quy định về chủ động nộp lại tài sản tham ô, nhận hối lộ...). Đặc biệt tại Điều này đã đưa ra những giải thích (hướng dẫn) thống nhất có tính chất chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao trong vấn đề áp dụng các phạm trù có tính chất đánh giá (tùy nghi) như: “Chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản”, “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm” và, “Lập công lớn”.

c. Điều 3 về việc không xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự (năm 1999) quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, mà theo đó Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP đã thể hiện nguyên tắc nhân đạo khi đưa ra những giải thích thống nhất mang tính chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao trong việc áp dụng pháp luật hình sự thuộc các trường hợp tương ứng cụ thể được nêu tại các khoản 1-2 Điều này của văn bản pháp luật đã nêu.

d. Điều 4 về việc xử lý hình sự đổi vối người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo Nghị quyết này đã thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyển với lứa tuổi thiếu niên. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôì cao đã đưa ra những hướng dẫn rất cụ thể trong hai trường hợp tương ứng vổi 02 mốc thời gian được phép xử lý hình sự người ở lứa tuổi thiếu niên là: a) Kể từ ngày 09/12/2015 đến ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành (Rất có ý nghĩa trong bối cảnh Bộ luật Hình sự năm 2015 bị tạm đình chỉ thi hành để sửa đổi, bổ sung nên khi quy định như vậy Tòa án nhân dân tôĩ cao vẫn chưa thể đoán trước là Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được sửa đổi đến bao giờ mới xong và sẽ có hiệu lực từ ngày nào vì mãi đến hơn 01 năm sau, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV chúng ta mới rõ là nó sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2018); b) Kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành.

e. Điều 5 về việc đình chỉ vụ án đối vối các trường hợp quy định tại cốc điểm d và đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/ QH13 mà theo đó văn bản pháp luật này đã thể hiện nguyên tắc nhân đạo khi đưa ra những giải thích thông nhất mang tính chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao trong việc áp dụng pháp luật hình sự thuộc các trường hợp tương ứng được cụ thể nêu tại các khoản 1-5 Điều này của Nghị quyết đã nêu.

f. Điều 6 về việc miễn chấp hành hình phạt đối vối các trường hợp quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 và hướng dẫn tại các điểm a và b khoản 1 Điều 3 Nghị quyết này mà theo đó đã thể hiện nguyên tắc nhân đạo khi đưa ra những giải thích thông nhất mang tính chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao trong việc áp dụng pháp luật hình sự đối với một loạt các trường hợp miễn chấp hành hình phạt thuộc các trường hợp tương ứng cụ thể được nêu tại các khoản 1-5 Điều này của Nghị quyết đã nêu.

 

5. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành hai Nghị quyết xuất phát từ thực tiễn xét xử

Kể từ ngày 01/01/2018 khi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chính thức đi vào cuộc sống chỉ trong 06 tháng đầu năm 2018 để tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự thứ ba của Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn xét xử Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 02 nghị quyết quan trọng mà trong đó đưa ra những giải thích từ ngữ có tính chất chỉ đạo để hướng dẫn cho các Tòa án nhân dân các cấp trên cả nước trong việc áp dụng quy phạm của 02 chế định nhỏ thuộc chế định lớn về các biện pháp tha miễn trong Bộ luật Hình sự năm 2015, mà cụ thể là:

a. Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018

Theo Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 về việc hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 của Bộ luật Hình sự về tha tù trưổc thời hạn có điều kiện (gồm 08 điều) mà theo đó lần đầu tiên Tòa án nhân dân tôì cao trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy phạm có liên quan đến chế định nhỏ về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong đó lần đầu tiên Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra những giải thích từ ngữ có tính chỉ đạo để làm rõ nội hàm một loạt các khái niệm và các phạm trù của các quy phạm thuộc chế định nhỏ này trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 như:

- Khái niệm như thế nào là tha tù trước thòi hạn có điều kiện (Điều 1).

- Các điều kiện cụ thể, cũng như các loại người được (và không được hưởng chế định nhân đạo về tha tù trước thời hạn có điều kiện (các điều 2-4) và đặc biệt là một loạt các giải thích thống nhất quan trọng nhằm hướng dẫn rõ các phạm trù về:

- “cố ý vi phạm nghĩa vụ” mà theo đó sẽ bị hủy bỏ quyết định về tha tù trước thòi hạn có điều kiện (tại 06 điểm từ a đến g khoản 2 Điều 5);

- Các điều kiện cụ thể để được rút ngắn thời gian thử thách (Điều 5) và; c) Mức rút ngắn thời gian thử thách (Điều 6).

b. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018

Theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 về việc hưởng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về án treo (gồm 12 điều) mà theo đó lần đầu tiên Tòa án nhân dân tối cao trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy phạm có liên quan đến chế định nhỏ về án treo trong đó Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy phạm có liên quan đến chế định này đã đưa ra những giải thích từ ngữ có tính chỉ đạo cụ thể để làm rõ nội hàm của một loạt các khái niệm và các phạm trù của các quy phạm thuộc chế định này trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 như:

- Khái niệm án treo (Điều 1), điều kiện được hưởng án treo (Điều 2); những trường hợp không cho hưởng án treo (Điều 3); điều kiện và mức rút ngắn thời gian thử thách của án treo (Điều 8).

- Ấn định thời gian thử thách (Điều 4) và; thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách (Điều 5).

- Nội dung bản án tuyên đối với người bị kết án treo (Điều 6) và quyết định hình phạt trong trường hợp ngưòi được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách hoặc phạm tội khác trước khi được hưởng án treo (Điều 7).

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thòi hạn xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách (Điều 9); chế tài xử lý trong trường hợp người bị án treo vô ý vi phạm nghĩa vụ (Điều 10) và; thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xét, quyết định buộc người bị kết án treo phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo (Điều 11).

Trân trọng!