1. Văn bản quy phạm pháp luật là gì, thuộc sở hữu của ai?
Đầu tiên chúng ta cần hiểu được là văn bản quy phạm pháp luật là gì?
Theo Luật Ban hành văn bản vi phạm pháp luật thì quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chưa quy phạm pháp luật, được ban hành đúng theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo như quy định pháp luật.
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm những cơ quan nhà nước theo như quy định của pháp luật. Ví dụ như: Quốc hội: ban hành Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: ban hành nghị quyết liên tịch; Chính phủ: ban hành Nghị định; Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Đối với văn bản quy phạm pháp luật cũng cần tuân thủ các nguyên tắc về ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật
- Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.
- Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác.
- Tùy theo nội dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tên. Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.
- Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
2. Vậy văn bản pháp luật có được bảo hộ sở hữu trí tuệ không?
Theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm:
- Tin tức thời sự thuần túy đưa tin.
- Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.
- Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.
Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật không thuộc đối tượng được bảo hộ bản quyền tác giả. Văn bản pháp luật do những chủ thể có thẩm quyền ban hành, có nội dung là ý chí của nhà nước. Các quy định trong đó luôn luôn mang tính bắt buộc và được đảm bảo bằng quyền lực của nhà nước. Đặc trưng của các văn bản này là tính đại chúng, cần càng nhiều người biết càng tốt nên đương nhiên nó sẽ không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Do vậy, nếu được bảo hộ thì nó sẽ làm mất đi tính phổ biến của những quy tắc này, đồng thời không mang lại hiệu quả như mục đích ban đầu của nó là điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hơn nữa, những văn bản này mặc dù có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản giấy, bản mềm… nhưng những văn bản này đều không thể hiện tính sáng tạo hay quan điểm cá nhân.
Đối với văn bản hành chính thì theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan thì “văn bản hành chính” ở đây “bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội; tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật”. Cũng giống như các văn bản quy phạm pháp luật, những văn bản hành chính cũng chứa đựng những quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc, nhưng với phạm vi nhỏ hơn, có thể là áp dụng trong các cơ quan nhà nước, trong các tổ chức, hay đơn vị vũ trang… hoặc áp dụng cho một số đối tượng như những người vi phạm hành chính… Bởi vậy, các văn bản hành chính, các văn bản thuộc lĩnh vực tư pháp cũng giống như các văn bản quy phạm pháp luật, đều không thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.
Tương tự như vậy, bản dịch chính thức của các văn bản đó cũng không được bảo hộ quyền tác giả, bởi nó chỉ là bản dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, mặc dù được thể hiện dưới hình thức nhất định nhưng nó không thể hiện được tính sáng tạo của tác giả, đồng thời nếu được bảo hộ, thì nó sẽ làm cho khả năng tiếp cận của mọi người đến với các văn bản này bị thu hẹp đi, không đảm bảo được mục đích ban đầu của các văn bản này.
Đây là những dạng văn bản được cơ quan nhà nước dùng để truyền tải những thông tin, chính sách, quy định của nhà nước đến đông đảo quần chúng nhân dân cũng như việc phổ biến rộng rãi để dân biết mà làm theo. Nếu được bảo hộ, các văn bản pháp luật, văn bản hành chính không thể phổ biến một cách dễ dàng. Hơn nữa, các văn bản này không thể hiện tính sáng tạo cũng như quan điểm cá nhân.
Đối với quyền sở hữu công nghiệp thì văn bản pháp thì văn bản pháp luật không phải đối tượng bảo hộ các quyền này.
3. Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ quyền tác giả nhằm hướng tới một cộng đồng tôn trọng “tài sản trí tuệ” và chỉ có ý nghĩa nếu người sáng tạo thực sự được tôn trọng các quyền về mặt tinh thần, quyền về mặt tài sản, được hưởng các lợi ích được khai thác từ chính tác phẩm của mình. Bảo hộ quyền tác giả là công cụ hữu hiệu nhất nhằm khuyến khích, làm giàu và phổ biến di sản văn hoá quốc gia và văn hoá của nhân loại.
Để tạo điều kiện cho công dân phát huy được tài năng trong việc sáng tạo những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có giá trị, Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ đều có những quy định nhằm giải phóng mọi năng lực sáng tạo trí tuệ của mỗi cá nhân. Các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả, của chủ thể quyền liên quan và của chủ sở hữu quyền tác giả ở Việt Nam được pháp luật bảo đảm thực hiện.
Bộ luật Dân sự cùng Luật sở hữu trí tuệ quy định về quyền tác giả là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Tạo điều kiện cho tác giả, chủ thể quyền liên quan có ý thức và trách nhiệm sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học có chất lượng về nội dung và nghệ thuật cao phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và phát triển khoa học, công nghệ của đất nước trong thời kì đổi mới. Những quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự về quyền tác giả là hành lang pháp lý để cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học, bảo đảm quyền bình đẳng của cá nhân, tổ chức, và loại trừ những hoạt động văn hoá không lành mạnh làm tổn hại đến lợi ích, văn hoá truyền thống của dân tộc. Những quy định của pháp luật thực định về quyền tác giả đã tạo ra những cơ hội cho mỗi cá nhân thực sự có tài năng phát huy được năng khiếu của mình, để cống hiến cho dân tộc, cho nhân loại những tác phẩm đậm nét nhân văn phục vụ mục tiêu bình đẳng, bác ái và hợp tác vì sự phát triển chung trong thời kì khoa học, công nghệ trên thế giới phát triển không ngừng.
Tựu chung lại, một trong ý nghĩa quan trọng của chế định bảo hộ quyền tác giả trước hết là bảo hộ quyền công dân khi họ tham gia vào hoạt động sáng tạo nhằm khuyến khích nhân dân tham gia, sáng tạo ngày càng nhiều tác phẩm có giá trị. Tạo nên một nền kinh tế tri thức lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp này; bảo vệ quyền và lợi ích cho những chủ thể sáng tạo, xử lý những hành vi xâm phạm quyền tác giả và bảo đảm công bằng giữa lợi ích của công dân và lợi ích của xã hội.
Luật Minh Khuê là một đại diện về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp được Cục Sở hữu trí tuệ và Cục Bản quyền cấp phép. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã thực hiện thành công nhiều bảo hộ nhãn hiệu, sáng chế, bản quyền tác giả,... Nếu có những thắc mắc hay cần thực hiện các thủ tục trên hãy liên hệ 0986.386.648 hoặc gửi thư đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn trực tiếp với luật sư.